Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2021

Kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm:












KINH HOA NGHIÊM



Bồ tát và đại Bồ tát tu Đại thừa 2 A tăng kỳ kiếp có 10 hạnh và 10 thánh quả như sau:

1-    Tu Bố-thí Ba la mật đắc đạo quả Sơ địa gọi là Hoan-Hỷ-Địa thứ nhất
2-    Tu Trì-giới Bồ tát Ba la mật đắc đạo quả Ly-cấu-địa là Nhị địa thứ 2
3-    Tu đạo quả An nhẫn Ba la mật đăc đạo quả Diệm-tuệ-địa là tam địa thứ 3
4-    Tu hạnh Tính Tiến Ba la mật đắc đạo quả Nan-thắng-địa là tư địa thứ 4
5-    Bồ tát tu Thuyền định Đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Phát-Quang-Địa thứ 5
6-    Bồ tát tu Trí-tuệ Đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Hiện-tiền-địa thứ 6
7-    Bồ tát tu Đại-Nguyện Ba la mật đắc đạo quả Viễn-hành-địa thứ 7
8-    Bồ tát tu Đại-lực Ba la mật đắc đạo quả Bất-động-địa thứ 8
9-    Bồ tát tu Đại-Trí đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Thiện-tuệ-địa thứ 9
    10- Bồ tát tu Đại-phương tiện Đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Pháp-Vân-địa 
Tiếp theo:
1.    Bồ tát nhập Kim cương địa tối thượng thừa thứ nhất trừ vi tế diệt tướng Vô minh và trừ vi tế dị tướng vô minh đắc đạo quả Đẳng-giác tối thượng thừa.
2.    Bồ tát tu Kim cương địa tối thượng thừa trừ trụ tướng vi tế vô minh đăc đạo quả Diệu-giác tối thượng thừa.
3.    Bồ tát tu Kim cương địa tối thượng thừa trừ vi tế sinh tướng vô minh đắc đạo quả Viên Giác tối thượng thừa.
            Sau đó thị hiện thuyết pháp độ cho các vị Bích Chi, A la hán, cõi trời sắc giới, vô sắc giới và cõi người. lại thị hiện thành Phật có 32 tướng và 80 vẻ đẹp, chế ngự Ma vương Ba tuần, rồi thị hiện thành Phật tức vô thượng chánh đẳng chính giác dưới gốc cây Bồ Đề, Long hoa… thuyết pháp tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa độ tất cả chúng sinh gọi là chuyển pháp luân.
Tiếp theo:
            Chuyn Pháp luân là nói rõ nhân tu, qu tu, duyên tu ca 10 pháp môn đại tha nói trên, như sau:
1.     Tu nhân Bố thí thì có cái duyên trừ được san-tham, san là keo kiệt, tham là tham danh tham tiền tham chức sẽ được cái quả là hoan hỷ địa thứ nhất nói trên. Hoan hỷ địa là hoan hỷ bố thí hoan hỷ với người nhận bố thí không có một chút gì cho mình là hơn, cho người nhận bố thí là kém tức là không chấp mình là năng thí, người nhận là sở thí như vậy gọi là bố thí Ba la mật đến bờ giác ngộ bên kia là đạo quả Đại thừa này.
2.     Tu hạnh trì giới Đại thừa là giới Bồ tát có 10 giới trọng chủ yếu là không sát sinh mà phóng sinh, không trộm cướp mà bố thí, không tà dâm mà giữ hạnh chung thủy vợ chồng, không nói dối mà nói lời chân thật, không uống rượu say và không bán rượu cho mọi người, không bịa đặt vu cáo mọi người, không chửi mắng nguyền rủa mọi người, không đánh đập người và súc sinh và không nghe lời dạy và tu các phép của ngoại đạo là thường kiến thượng đế và đoạn diệt kiến thế tục. Nhờ các duyên đó đắc đạo quả Ly-cấu-địa thứ 2. Trong khi trì giới Bồ tát, ko chấp minh là người trì giới, không gét bỏ những kẻ phá giới mà chỉ cho họ biết phá giới là đau khổ thì gọi là trì giới Ba la mật. Tức là trừ bỏ mọi sự phóng túng và mọi sự nhút nhát.
3.    Tu hạnh kiên nhẫn tức là an tâm kiên trì khi tu đạo có cái duyên là vui vẻ khi nói chuyện với chúng sinh dù chúng sinh có ngang ngạnh cũng không cáu giận với chúng sinh thì đắc quả Diệm-tuệ-địa thứ 3. Có nghĩa là đã có ánh sáng trí tuệ Đại thừa bừng sáng lên nơi tâm của người tu hạnh này. Trong khi tu hạnh này ko chấp mình là người năng nhẫn, ko chấp kẻ ác gây chướng ngại cho minh là sở nhẫn thì gọi là An nhẫn Ba la mật.
4.    Tu hạnh tinh tiến tức là cái việc thiện đã làm thì phải làm thêm, cái việc ác chưa làm thì không bao giờ làm thì đắc quả Nan thắng Địa thứ 4. Lúc đó không chấp mình là người tinh tiến, không chấp kẻ ngăn cản mình thì gọi là tinh tiến Ba la mật.
5.    Tu các phép tư duy Đại thừa gồm có suy nghĩ giáo pháp đại thừa, quyết định như thế không bao giờ thay đổi thì gọi là thiền định Đại thừa. Trừ bỏ mọi sự tư duy tán loạn thì đắc quả Phát quang địa thứ 5 phá tan các tư duy ác của chúng sinh, phá tan các tư duy lệch lạch của An la hán tiểu thừa. Không chấp mình là người tu thiền định đại thừa, không chấp kẻ gây tán loạn khi mình tu thiền định đại thừa thì gọi là thiền định Ba la mật.
6.    Người tu Đại thừa nghe pháp Đại thừa phát ra sự thông suốt sáng tỏ khi hiểu pháp đại thừa thì gọi là văn tuệ đại thừa, suy nghĩ giáo pháp Đại thừa thì gọi là Tư tuệ giáo pháp Đại thừa, thực hành đại thừa có kết quả tốt thì gọi là Tu tuệ Đại thừa. Có duyên để phá hết sự si mê của chúng sinh, có duyên phá cái chấp lệch lạc của A la hán tiểu thừa. Chấp lệch lạc này là cứ phải đi tu mới đắc quả A la hán tiểu thừa thì đắc quả hiện tiền địa thứ 6. Lại không chấp mình là người có trí tuệ kẻ khác là người ngu si thì gọi là Bát Nhã Ba la mật thứ 6.
7.    Tu hạnh Bồ tát đại thừa nguyện cứu độ chúng sinh và mình, tương lai đều đắc quả thành Phật đều thấy được Phật tính của mình đã chót bỏ quên từ lâu đời kiếp, trừ bỏ cái duyên do dự dở giang tức là cái duyên tự cho mình là hèn kém, cho chúng sinh là nhiều tội ác, mà phát nguyện lớn đó thì đắc quả Viễn hành địa thứ 7. Lúc đó không chấp mình là người phát đại nguyện đại thừa, ko chấp chúng sinh là người có độ, có cứu, không chấp A la hán tiểu thừa là người do dự giở giang thì gọi là Đại nguyện Ba la Mật.
8.    Tu Bồ tát Đại thừa phải tạo cho mình một cái lực vững chắc không sợ chướng ngại, không rút lui khi thấy chướng ngại, khi bị chúng sinh công kích, khi bị A la hán tiểu thừa chê bai thì gọi là Đại lực Ba la mật thứ 8. Tức là Bất động địa thứ 8.
9.    Bồ tát tu Đại thừa thấy chúng sinh dại dột tham ngũ dục lục trần cho đến lúc mất hết cả trí khôn thì kiên trì giáo hóa chúng sinh, chỉ rõ cho chúng sinh biết trí tuệ là để làm việc thiện, không bao giờ dùng trí tuệ để lừa gạt giết hại lẫn nhau, không bao giờ trùng trí tuệ chế tạo ra vũ khí giết người giết vật, thì đắc quả Thiện-tuệ-địa thứ 9. Lúc đó không chấp mình là người có thiện tuệ, không chê bai chúng sinh là ác trí ác tuệ, không chê bao A la hán tiểu thừa là trí tuệ lệch lạc thì gọi là Đại trí Ba la mật.
10.  Bồ tát tu Đại thừa thấy chúng sinh căn cơ khác nhau, thấy tiểu thừa A la hán cố chấp chỉ biết có cái vui riêng của mình mà không độ chúng sinh thì phải nghĩ ra mọi cách, tức là nhiều phương tiện để giáo hóa nhiều loại chúng sinh, giáo hóa những A la hán phải biết cứu độ chúng sinh, không ích kỷ hưởng vui một mình thì đắc quả Pháp Vân địa thứ 10. Lúc đó không chấp mình là người có nhiều phường tiện cứu độ, không chê bai chúng sinh có nhiều mê lầm, không chê bai tiểu thừa A la hán có nhiều lệch lạc thì giọi là phương tiện Ba la mật thứ 10.
            Phương tiện này phải biết lúc thuyết pháp phải thuyết đúng căn cơ, thời gian, địa điểm, phai thuyết đúng giáo pháp Đại thừa mới thành tựu viên mãn phương tiện Ba la mật này. Không có một chút sơ sở thì gọi là phương tiện Thiện Vô lậu Đại thừa Ba la mật.
            Sau đó Bồ tát Pháp Vân địa thứ 10 này nhập Kim cương Đạo tối thượng thừa thấy rõ Diệt tướng vô minh là cái vô minh vi tế thấy các pháp tướng sinh diệt liên tục trong thời gian ngắn gọi là sát na thì giác ngộ các pháp tướng này, sinh là giả tướng sinh, diệt là giả tướng diệt, thì trừ được vi tế diệt tướng vô minh, lại thấy tướng của các pháp lúc thì giống nhau lúc thì khác nhau, mà hiểu được khác nhau hay giống nhau là sự thay đổi tạm thời biến hóa, thì trừ được cái khác với cái giống là dị tướng vô minh vi tế và đắc quả Đẳng giác Bồ Tát thứ 11.
            Đẳng giác Bồ tát thấy các pháp tướng lúc thì trụ vững chắc, lúc thì yếu là nghiêng ngả, phá cái chấp trụ chấp yếu thì được vô-sở-trụ, trừ được trụ tướng Vô minh và đắc quả Diệu Giác Bồ tát thứ 12.
            Diệu Giác Bồ tát thấy Pháp tướng sinh biến hóa vô cùng, biết rõ cái sinh là tướng vi tế vô minh, sinh tướng giả dối, trừ được cái sinh tướng vi tế vô minh giả dối thì đắc quả Viên Giác Bồ tát thứ 13 gọi là Nhất sinh Bổ xứ Bồ tát.
            Ví dụ đức Từ Thị Bồ tát là nhất sinh bổ xứ, khi chúng sinh thọ 8 vạn tuổi thì xuất hiện gọi là Từ thị siêu thắng Bồ tát.
            Khi Nhất sinh thấy chúng sinh đủ duyên hóa độ thì thị hiện đản sinh, xuất gia tu đạo, thị hiện chế ngự ma vương đắc đạo thành Phật, đó gọi là Vô thượng chính đẳng chính giác là đạo quả tối thượng thừa thứ 14. Vô thượng là ko có cái gì có thể hơn. Chính đẳng là sự bình đẳng tuyệt đối. Chính giác là sự giác ngộ tuyệt đối, gọi là Phật. Một đức Phật có các danh hiệu sau đây:
            1. Như Lai là hòan tòan thấy rõ Phật tính của mình đã bỏ quên từ trước đến nay, dù là chúng sinh Phật tính không giảm đi, khi đắc đạo thành Phật Phật tính không tăng thêm gọi là Như, nhưng luôn luôn xem xét chúng sinh có thể giác ngộ thì quay lại giáo hóa chúng sinh ở cõi trời cõi người gọi là Lai.
         2. Nếu chúng sinh nào Lễ Phật niệm Phật làm theo hạnh của Phật thì gọi là cúng Phật thì là danh hiệu thứ hai là Ứng cúng.
         3. Chính biến tri là cái biết ngay thẳng gọi là chính, hiểu tòan diện gọi là biến, hiểu biết tất cả mọi căn cơ của chúng sinh, hiểu biết căn cơ tiểu thừa A la hán cần phải tiến lên đại thừa gọi là Chính biến tri.
         4. Sự sáng suốt đến đâu thì thực hành đến đấy, lời nói đi đôi với việc làm gọi là Minh-hạnh-túc.
           5. Không bỏ sót một chúng sinh nào nếu chúng sinh đó cầu Phật, để giữ được thệ nguyên ban đầu lúc mới tu thì gọi là Thiện Thệ.
          6. Giải thích mọi mê lầm của chúng sinh, là do tham sân si mạn nghi tà kiến gây ra, thì gọi là Thế Gian Giải là Đại giác ngộ bình đẳng.
          7. Coi chúng sinh là Phật sẽ thành thì gọi là Vô thượng Sỹ.
         8. Chế ngự được cái ngã chấp tướng của chúng sinh là thượng đế tà kiến, trừ bỏ nhút nhát nghi ngờ của đoạn diệt kiến chúng sinh, gọi là Điều ngự trượng phu.
        9. Là thầy giáo của các cõi trời và các cõi người cho đến A la hán tiểu thừa thì gọi là Thiên Nhân Sư.
     10. Tự mình giác ngộ cho mình đắc đạo thành Phật, giáo hóa cho chúng sinh tu đại thừa sẽ thành Phật ở tương lai, thì gọi là Phật, tức là tự giác giác tha giác hạnh viên mãn.
Được chúng sinh tiểu thừa Alahan được trung thừa Bích Chi, được các Đại thừa bồ tát kính mến suy tôn là Thầy giáo lớn, Y vương là thầy thuốc lớn, Pháp vương là thầy chỉ bảo tu các pháp đại thừa chân chính thì gọi là Thế tôn. 
 
            Để phân định rõ ràng cần phải hiểu rõ, tiểu thừa A la hán mới trừ được Ngã chấp tướng, quá trình tu này một vị a la hát tu 50 đại kiếp, mỗi đại kiếp 1280 triệu năm.
            Một vị a la hán bắt đầu hóa độ chúng sinh hiểu được nhân quả thì gọi là Bích chi Trung thừa.
            Một vị tu Đại thừa tu 10 hạnh nói trên, hạnh 13 Diệu Giác là Đại thừa, 14 là Phật gọi là Tối thượng thừa.
Tu từ số 1-8 là A tăng kỳ kiếp thứ nhất, 8-10 là A tăng kỳ thứ 2, 11-14 là A tăng kỳ thứ 3. A tăng kỳ là vô số nghĩa là có giới hạn.
 

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Tối thượng thừa Thiền

 




Bao gồm cả Hiển giáo và Mật giáo. Hiển giáo là các đạo lý dùng ngôn ngữ văn tự để thể hiện. Riêng tiểu thừa, Trung Thừa thì cũng có hiển giáo như Đại Thừa. Nhưng Mật Giáo thì chỉ có Đại Thừa. Vì Mật giáo tuy cũng dùng ngôn ngữ văn tự nhưng là những ngôn ngữ văn tự đặc biệt chỉ có chư Phật với chư Phật mới hiểu hết được hêt ý nghĩa. Ngôn ngữ văn tự của Mật Giáo là tóm tắt tinh hoa đại ý của các bộ khế kinh Đại Thừa bằng những câu chữ tiếng Phạn (shancri), những ngôn ngữ này là tiếng cổ của miền bắc Ấn Độ cách đây khoảng 6000 năm. Cho nên Mật Giáo Đại Thừa cũng chính là tối thượng thừa Thiền Đại Thừa. Ý nghĩa giống nhau nhưng hình thức biểu hiện ngôn ngữ là khác nhau.

Tối thượng thừa Thiền được biểu hiện trong Mật Giáo qua các bài mẫu tự Đa- ra- ni ở hai bộ khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm ( Đại Thừa Viên giáo) và Đại bát Niết Bàn ( Đại thừa Chung giáo và Đại thừa Đốn Giáo). Còn biểu hiện ở khế kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại thừa thông giáo). 

Tối thượng Thừa Thiền được biểu hiện trong hiển giáo qua các bộ khế kinh THủ Lăng Nghiêm, Đại Bát Nhã và Đại bát niết bàn cùng Đại phương quảng hoa nghiêm và nhiều bộ khế kinh Đại thừa khác.

Ở nơi Mật Giáo qua các bộ khế kinh Đại Thừa nói trên thì ý nghĩa tối thượng thừa thiền biểu hiện là: chỉ rõ chúng sinh bản lai từ vô lượng kiếp trước đã có đầy đủ Như Lai trí tuệ đức tướng ( Nhất thiết chúng sinh bản lai cụ túc Như Lai trí tuệ đức tướng) như khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm đã nói. Lại như khế kinh Đại bát niết bàn Đức Phật Thích Ca đã dạy “Nhất thiết chúng sinh bản lai cụ túc phật tính thường trụ bất sinh bất diệt”. Khế kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật Thích Ca cũng dạy “ Nhất thiết chúng sinh bản lai cụ túc viên thông nhị thập ngũ tính thường trụ hiển thị tại nhị thập ngũ viên thông pháp môn”. Tất cả ý nghĩa tối thượng thừa này đều biểu hiện ở ngôn ngữ phẩm Đà la ni mẫu tự ở khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm, Đại bát niết bàn và Chân ngôn Thủ Lăng Nghiêm.

Ở hiển giáo khế kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng chỉ rõ pháp môn viên thông là 25 pháp môn đều nhằm mục đích giúp chúng sinh tu luyện đắc tính viên thông. Tính viên thông này là viên mãn (đầy đủ mọi công đức vô lậu, vô vi). Kiên cố (thường trụ bất sinh bất diệt) và cứu kính (cao siêu đệ nhất cũng gọi là vô thượng). Khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm nói rõ 10 hạnh nguyện của đức Đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát là thật giáo Đại thừa. Chúng sinh nào có cơ duyên Đại Thừa tu 10 hạnh nguyện này thời vị lai sẽ đắc Đạo vô thượng đại Bồ đề đầy đủ tính viên mãn kiên cố cứu kính như kinh Đại phương quảng hoa nghiêm nói. Khế kinh Đại bát niết bàn Đức Phật dạy nếu chúng sinh nào phát tâm tối thượng thừa dù chỉ nghe hai chữ thường trụ mà kính cẩn phụng trì thì đời vị lai cũng sẽ đắc đạo thành Phật viên mãn cái Phật tính thường trụ mà chúng sinh đã sẵn có từ vô thủy kiếp. Khế kinh Diệu pháp liên hoa là đại thừa Chung giáo Đức phật thụ ký cho rất nhiều đệ tử là A La Hán tu theo Đại Thừa sẽ đắc đạo thành Phật ở đời tương lai. Ở đây Đức Phật lại nhắc lại hạnh tu viên thông nhĩ căn của đức Quán Thế Âm Bồ Tát của khế kinh Thủ Lăng Nghiêm qua phẩm Phổ Môn thứ 25 ở đoạn nói hạnh Quán Thế Âm nghe tiếng chúng sinh cầu nguyện, niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm mà thị hiện các thân thế gian và xuất thế gian (32 ứng thân) để đến cứu độ những chúng sinh đó.

( còn tiếp )


Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

ĐẠI ĐỊNH LĂNG NGHIÊM


Vạn hữu sum la thấp với-cao (sắc)
Chuông kêu ngũ ấm Tưởng Hành vào (thọ)
Lăng nghiêm đại định là Chân-định
Chẳng đánh mà ngân, vọng Thức nào!? ... Thức Out= Vô thức= Xả)
-----
- Dòng chảy liên tục của tâm, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh không gián đoạn. Ngay từ sát-na đầu tiên, với sự giao tiếp của căn, cảnh, thức tạo ra hoạt động của cảm thọ ( thập bát giới ). Từ cảm thọ kích phát sự tiếp thu ảnh tượng và khái niệm ( Tưởng uẩn ). Sự tiếp thu này, hình thành xung động tâm lý ( Hành uẩn), vào khoảng sát-na cuối cùng, tâm thức như là chủ thể nhận thức hiện tại, Thức uẩn này quyết định sẽ làm gì sau khi hoàn tất quá trình xử lý đối tượng hay khái niệm nắm bắt được.
- Đại định Lăng Nghiêm là Chân định vì là biểu hiện của Tự-tính-thanh-tịnh-tâm, diệu dụng phổ độ chúng sinh không có chướng ngại.  Rời tất cả các khái niệm, Vọng-thức. Nghĩa là theo duyên mà không đổi, không đổi mà theo duyên.
Thức tâm bản nguyên không có năng sở, do bất giác mà lập ra như có Tính-Minh, khi năng minh và sở minh thành lập. Năng minh không vượt qua được sở minh, sinh ra sự ngăn ngại của tâm thức (Sắc uẩn), có nặng có nhẹ, có lớn có bé...từ một thức tâm lại sinh ra nhiều thức sai khác gọi là chuyển thức hay vọng thức ( hoặc vọng tâm ). 
- Vọng thức là kết quả cuối cùng từ chu trình hoạt động của ngũ uẩn trong 5 sát-na. Khoảng thời gian đủ ngắn để thức sinh ra và diệt không gián đoạn. Kết quả của nhận thức thông thường căn cứ trên thói quen mê lầm của các chủng tử bất thiện lưu lại ( huân tập ) trong Tàng thức, nghĩa là lấy cái này so đo với cái kia, dựa vào nhau hay đối lập nhau mà giả-có. 
Bản chất đó là sự đối đãi phân biệt. Hình ảnh của thực tại thông qua chuỗi nhận thức duyên khởi như thế gọi là các niệm vọng đi vọng lại,  thực tại theo đó mà méo mó, dẫn đến nhận thức sai lầm, tạo ra kết quả phiền não khổ đau trong chuỗi đời sống vô tận. 
- Rời phân biệt là sự xả ly hay Viễn-ly vọng thức, nhận thức cái thấy như vậy gọi là cái thấy Như-Huyễn.
Như Huyễn, Viễn Ly là thật tướng của Bát Nhã. Thật-tướng này kết hợp với Tự-tính thanh tịnh tâm (Chân Định ) cấu thành bản Thể của Chân Như.

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

Luận về chữ KHÉO

Binh pháp mưu kế xưa nay rút gọn thành mấy câu tiêu biểu,
gọi là cái khéo của thế gian thế tục, như sau:

Khéo thua không bị chết
Khéo đánh không bị thua
Khéo bày trận không cần đánh
khéo cầm quân không cần bày trận
Khéo đạo không cần dụng binh.

Sau khi chiêm nghiệm về Bồ tát đạo,
chúng tôi có viết lại mấy câu kệ về KHÉO XUẤT THẾ GIAN:

Khéo Nhẫn thì An ( ổn )
Khéo cho (bố thí) thì có
Khéo giữ ( giới) thì yên
Khéo Thiền ( định ) thì sáng ( tỏ)
Khéo Tiến ( tinh tiến ) nhanh sang ( bờ giác).
Khéo chọn thì Anh ( minh )
Khéo nguyện sớm Thành ( tựu )
------
Luận về khéo thế gian: Pháp thế gian dù có khéo đến mấy cũng chỉ là hòa-hợp-đối-đãi của sự tướng huyễn và tâm tướng huyễn, mà đã Huyễn chắc chắn sẽ Hư.
Kệ khéo xuất thế gian này chúng tôi viết theo tinh thần Lục độ Ba la Mật: Bố thí (cho), Trì giới ( giữ), An Nhẫn ( nhẫn), Tinh tiến ( tiến), Thiền Định ( thiền)... Ba la mật có nghĩa là rời tướng mê ngộ, ở sự tướng là rời năng sở, như hạnh Bồ tát lìa ngã sở tướng là không chấp có ta là nguời hành đạo, có người cần được hành đạo, có pháp để hành. Như vậy chữ Khéo chính là Ba la mật. Ở đời ai giúp mình giúp nguời điều gì thì chúng ta thường dùng chữ khéo,sống  vì người chính là hạnh lợi tha, do dó có thể nói hành động vì-người mới là khôn-khéo Ba la mật vậy.
Kinh Kim Cương dạy:"Có chất bảy báu thế gian cao bằng núi Tu Di thì cũng không bằng trì Tứ Cú Kệ!." Cho nên người khéo việc thế gian thì có đến mấy cũng chỉ là sự tinh anh quanh quẩn, làm nhân cho luân hồi. Vô lượng cái khéo đó cũng không bằng tâm ngay thẳng, bình đẳng không phân biệt. Tứ cú kệ có nhiều, chủ yếu là bốn cái không: Thân không , Tâm không, Ngã không, Pháp không. 

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2020

PHẬT HỌC DỊ GIẢI



Người học Phật xưa nay luận giải nghĩa Kinh  với mục đích làm rõ ràng và nêu cao Phật Pháp, không quyển sách nào là không đưa người đến việc Phúc để tránh Hoạ, đế việc Đức để tránh Hại, cụ thể là sửa điều lỗi theo việc lành, thấy rõ lẽ nhân quả ba đời, nhận biết cái Phật Tính sẵn có nơi mình, ra khỏi bể khổ sinh tử về miền An Lạc. Kẻ hậu học chúng ta nên sinh lòng cảm ân, thành tâm, như đứng trước mặt Phật, như nghe lời thầy dạy, chắc chắn sẽ được lợi ích lớn, tự mình có thể ban cho mình.
Nay vì lợi ích vô bờ bến như vậy, kẻ hậu học Quảng Kiến tôi vui mừng ghi lại những lời quý báu của người xưa, mong mỏi chia sẻ với quý đạo hữu khắp mọi nơi, thì cũng như một ngọn nến thắp lên nối nhau thì ánh sáng được rộng khắp nơi nơi vậy.
Phần 1 - MÊ NGỘ KHÔNG PHẢI LÀ HAI ( MÊ NGỘ BẤT NHỊ )
Tu hành nếu chuyển hoá được ba độc Tham, Sân, Si thành tâm lương thiện, thì Tham ắt biến thành không tham, tức là Từ bi; Sân ắt biến thành không sân, tức là Dũng khí ( khí khái, mạnh mẽ ); Si ắt biến thành không si, tức là Trí huệ.
THAM —> BI.  <— GIỚI
SÂN    —> DŨNG <— ĐỊNH
SI        —> TRÍ <— HUỆ
Tham Sân Si là ba độc chuyển thành Bi, Trí, Dũng là ba thật đức. Răn cái Tham là Giới, bỏ Sân là Định, rời Si là Huệ. Thể nhập tam vô lậu học là vào ba cái học Giới, Định, Huệ, tức là tu nghiệp Phật pháp, như vậy tâm ba độc và tâm ba đức chưa hề sai khác, vẫn là một tâm. Chẳng qua là thấy được hay chưa thấy được thực tướng là cái tính bất sinh bất diệt của pháp giới vũ trụ.
Đại sư Vĩnh Gia có bài kệ chứng đạo như sau:
Vô minh thực tánh, tức Phật tánh
Ảo hoá không thân, tức Pháp thân
Pháp thân giác liễu, vô nhất vật
Bản lai tự tánh, Thiên chân, Phật.
Dịch và giải:
Cái tính thật của vô minh chúng sinh, tức là tính Phật. tính thật của chúng sinh đồng với Phật là tính bất sinh bất diệt.
Cái thân giả tạm có mà không của chúng sinh, tức là thân Pháp.
Biết rõ thân pháp, thì không có một vật gì hết:
Bản lai Tự tính, là Thiên nhân, là Phật.
Thực thể của vô minh phiền não là thực thể của sự Giác ngộ; thân vô thường vô ngã là Pháp thân. Bởi chung một tính Bất sinh bất diệt của Bản tâm, lý của Mê, Ngộ không hai là như thế. Bản thể của Tâm vốn thanh tịnh vắng lặng và trong sạch ví như tấm gương sáng. Gương sáng thì gặp cảnh nào cũng chiếu được, cảnh qua rồi thôi, không lưu lại trong gương một dấu vết nào. Vì chúng sinh không giữ được gương lòng trong sáng nên nó thành như tấm phim, cảnh nào vào đều lưu giữ lại. Cảnh trước một khi đã ghi thì cảnh sau không còn chỗ để chứa. Một khi lòng đã có chỗ tức giận, có sợ hãi, có lo lắng thì không được ngay. Khi đã chứa cái “ không ngay” là giận, lo, tham rồi thì còn đâu mà chứa cái “ ngay”. Ví dụ như vậy để thấy rằng, đừng để một cảnh nào độc chiếm tâm ta, được như thế sẽ thấy rõ, thấy đúng mọi việc, đó là chính-kiến, mà có chính kiến là giác ngộ. Cũng như vậy, bản tâm ta như cái nhà kho, nếu cứ lưu chứa những đồ bất tịnh thì cái cảnh hôi thối lộn xộn hiện ra. Nếu biết mà chỉ chứa những đồ tốt đẹp quý báu thì cảnh giới thanh tịnh hiện ra. Đó là quả báo theo luật nhân quả, không có ai thưởng phạt nhưng tựu chung lại có sự thưởng phạt rõ ràng.

còn tiếp...

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2020

Thấy vấn đề và giải quyết vấn đề trong Phật Pháp

Các Pháp thế gian=Hữulậu=Hữu vi
Các Pháp này bao giờ cũng có bốn phần:

1. Thấy vấn đề = Kết quả cuả
vấn đề: Đây là các kết quả tốt gọi là thiện hữu lậu là ba cõi Thiên, Nhân, Atula. Và các kết quả xấu là ba cõi Địa ngục, Ngã quỷ, Súc sinh

2. Nguyên nhân của vấn đề = Nhận thức vấn đề:Nguyên nhân của các kết quả tốt ở người là giữ được Ngũ giới Nguyên nhân của Atula là giữ chưa trọn vẹn ngũ giới, thích đấu tranh quá mức độ do đó phạm vào giới sát nhiều.
Nguyên nhân của Cõi Trời dục giới là thực hành được 10 điều thiện. Nguyên nhân của Thiên Ma ba tuần (Ác ma) ở cõi trời Tha hóa tự tại thứ 6 dục giới là tuy làm được 10 điều thiện nhưng lại xen kẽ phạm giới bất tà dâm mà có cõi này. Nguyên nhân của các cõi trời sắc giới là tu 10 điều thiện nhưng có phần hơn là diệt trừ hoàn toàn khả năng tình dục. Nguyên nhân của các cõi trời Vô sắc giới là cũng như các cõi trời sắc giới nhưng mắc cái lỗi là chấp sự rỗng không hư vô, dễ mắc đến đoạn diệt kiến tà đạo. Do đó hết kiếp ở cõi trời vô sắc giới thì lại quay lại dục giới như cũ.

3. Phương pháp giải quyết vấn đề:
Ở cõi người phải thành tựu tinh thông 5 nghề: Sĩ (trí thức), Công (công nghiệp), Nông (Nông nghiệp), Thương ( thương mại). Và binh (Quân sự). Tất cả 5 nghề này phải tinh thông kèm theo giữ nghiêm ngũ giới. Ở các cõi trời dục giới thì giữ nghiêm việc thực hành 10 điều thiện nhưng phải biết quy y Tam bảo để có hướng tiến lên tốt ở đời tương lai. Ở các cõi trời sắc giới thì cũng như các cõi trời dục giới nhưng phải làm thêm việc tu học theo tứ niệm xứ của tiểu thừa Phật Pháp thì tương lai sẽ tu hành tốt theo tiểu thừa Phật pháp. Ở các cõi trời vô sắc giới thì cũng như các cõi trời sắc giới nhưng phải phá cái chấp hư vô rỗng không để đời kiếp sau tu theo tiểu thừa khi được quay lại làm người.

4.Kết quả của việc làm đúng theo phương pháp giải quyết vấn đề:
Ở cõi người thì thành tựu được: Phú Quý Phúc Lộc Thọ
Ở cõi trời dục giới thì hết kiếp quay lại làm người sẽ
 tu học theo Phật pháp được viên mãn trong các đời tương lai.
Nếu ở cõi Ma vương ba tuần thì sẽ thoát nghiệp ma, quay lại kiếp người tu học theo Phật Pháp được viên mãn.

Ở các cõi trời sắc giới thì sau khi hết kiếp, quay lại làm người sẽ thành công việc tu theo tiểu thừa Phật pháp. Riêng những người thượng căn ở đệ tứ thiền sắc giới sẽ đắc quả Alahan ở cõi đó nhờ được sự giáo hóa của đức Phật Lô Xá Na là viên mãn báo thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ở các cõi trời vô sắc giới nếu thực hành đúng phép tu theo tiểu thừa thì kiếp sau quay lại làm người sẽ gặp minh sư thiện hữu giáo hóa cho tu theo tiểu thừa thành công. Những người này sẽ thoát khỏi quả báo ác là bị đọa địa ngục do cái nghiệp chấp hư vô rỗng không gây ra.

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2019

Tâm xưa Tâm nay

Chẳng phải Thu về Nhạn mới bay
Cười cho thế sự trả rồi vay
Sao không chính niệm rời năng sở
Tỏ bản tâm xưa chẳng khác nay
---

Ý NÓI:
Chân Tâm vốn thường yên lặng, không hình tướng lay động biến đổi, không sinh diệt đi lại. Cũng như bóng Nhạn bay qua dòng sông trong bước tao ngộ tình cờ. Tâm chân thật là Như Như bất động, tự tại không gì lay chuyển được. Còn vọng tâm ở ngoài chỉ là cái bóng giả hiện lên biến đổi luôn luôn như bóng nhạn dòng sông. Nhạn đến nước không giữ hình,  Nhạn đi mặt nước không lưu ảnh. Có chăng chỉ là vọng thức duyên theo các cảnh mà thành ra có với không. 

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

Mưa hoa


















" Mưa hoa rơi khắp thế gian
Thoại-đầu khai mở tâm nàng là tôi
Mười phương thế giới chia đôi
Nửa trong hạt bụi, nửa nơi Niết Bàn. "

Mạn đàm:
Tâm chưa phải là Phật vì tâm còn có hai phần chân và giả. Cũng như quặng tuy có vàng nhưng vẫn lẫn đất đá tạp chất. Vậy tâm cũng có cả tính thiện nhưng lẫn cả tính ác và tính vô ký ( không phải thiện ác ). Điều này giải thích cho việc nhiều người nói Phật trong tâm cần gì phải tu. Bởi Phật trong tâm là Phật nhân chưa phải Phật quả, cần trải qua quá trình tu hành theo chính duyên là các pháp môn Phật dạy ( như vàng cần phải sàng lọc ) thì mới chính nhân kết hợp với chính duyên thành chính quả. 
Trí chưa phải là đắc vì trí cũng có 2 phần là Trí thế gian và trí xuất thế gian. Trí thế gian làm ra vật dụng máy móc lợi người nhưng cũng làm ra vũ khí giết người. Trí xuất thế gian chỉ có một mục đích là soi sáng cho chúng sinh tiến vững bước đi đến giác ngộ, giải thoát.

Đạo là con đường chân chính sáng suốt tốt đẹp. 10 phương 3 đời quá khứ, hiện tại, tương lai chư Phật đã đi qua con đường ấy đến đích là thành Phật và hiện đang dắt dẫn chúng sinh đi đến con đường ấy tránh thoát mọi con đường tà ác.

(viết cho Tuệ Trúc)

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019


























Nhìn xa xa phía chân đồi
Thấy đôi cánh nhạn lưng trời bay cao
Trong ta có ngọn mưa rào
Theo chuông chùa vọng đổ vào trần gian
---
Luận về Chiếu kiến trong Bát Nhã tâm kinh
Kiến là nhìn là thấy, Chiếu kiến là xem xét nhận diện cái thấy biết của thức với căn cảnh trần. Như vậy,
"Chiếu kiến là Chân tâm bởi thường thanh tịnh sáng suốt
Lời bàn của Quảng Kiến: 
Kinh Phật dạy, chúng sinh có vạn pháp bách tâm. Trong vô lượng phương tiện có môn pháp tướng ( Duy Thức ), nói về 52 tâm sở , trong đó chỉ có 11 tâm sở thiện, còn lại là phiền não tâm sở và tâm vô ký. Tâm sở biến hiện ở căn-cảnh-trần-thức, theo duyên mà vận, khởi tướng mà hành. Các tâm sở hữu vốn bị ô nhiễm bởi căn và trần. 6 căn gồm ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý....), 6 trần ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), Sở hữu tâm nương theo thức phân biệt mà tạo ra cảnh giới huyễn hoá, khi có khi không. Làm cho chúng sinh khi lên khi xuống, khi được khi mất, lúc khổ lúc vui không lường. 

Để trở về với bản tâm chân thật, Phật dạy đệ tử của mình thường phải chiếu soi, nhận rõ động tĩnh, thực ảo, của vọng tâm mà trừ, thì được thanh tịnh. Thường nhận thức được sự phân biệt của tâm mà sàng lọc, gọi là Kiến, từ đó có được thân thanh tịnh, trí sáng suốt, hiển hiện trong cả ý niệm lẫn hành động, như vậy sớm muộn sẽ trở về với bản tâm chân thật, gọi là Chiếu Kiến.

( viết cho Tuệ Trúc )

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Đại Ngã và Phật Tính

Thần ngã ( Đại Ngã ) và Phật Tính
( Hậu học Quảng Kiến tổng hợp )

Có nhiều ngoại đạo nói: Ngã riêng của các loài: Thần, Người, Quỷ, Vật là tiểu Ngã. Có một thượng đế là Đại Ngã tức Thần Ngã sinh ra tất cả. Đây chính là thường kiến thượng đế như Phật giáo Đại Thừa đã nói ở nhiều các khế kinh. Các khế kinh này bằng tiếng Phạn đã có từ lâu đời ở miền Bắc Ấn Độ. Từ thế kỷ thứ 8 trở đi quân xâm lược nước ngoài xâm chiếm Ấn độ phá huỷ các kinh này đến nay chỉ còn rất ít ở miền Bắc Ấn độ, Tây Tạng và các nước như Ta-gi-ki-xtan, Nga, Mông Cổ hoặc khắc trong hang đá ở Tây Bắc Trung Quốc, Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan. Vì thế gây ra sự hiểu nhầm là không phải Phật nói, do các vị Tỷ Khiêu Bắc Ấn độ và Trung Quốc nói ra.
Từ một thứ sinh ra nhiều thứ khác nhau các bạn thử nghĩ xem điều đó có lý hay vô lý. Ví dụ, cái một lớn là Đại Ngã là cái gì mà lại sinh ra loài quỷ hại người, rồi lại sinh ra thần cứu người, rồi lại sinh ra súc vật để người ăn. Nếu thật có cái Đại Ngã thượng đế này thì là một điều quá khôi hài vì tạo ra nhiều cái bất công vô lý rồi chính họ lại bảo phải nghe lời thượng đế để trừ bỏ mọi điều vô lý như trên, thì chứng tỏ thượng đế ( Đại Ngã = Thần Ngã ) không phải là toàn năng. Nếu toàn năng thì phải tạo ra cái bình đẳng, chứ tại sao lại tạo ra các cái bất bình đẳng như thế. Thậm chí còn tạo ra nhiều bạo chúa giết dân lành thì cái lý bình đẳng đó ở đâu, ai chịu trách nhiệm cho cái bất bình đẳng này. 
Nếu Đại Ngã là người toàn trí thì phải có trí tuệ tạo ra nhiều người có trí tuệ nhỏ. Tại sao lại tạo ra bao nhiều người ngu si để người có trí tuệ phải mất công giáo dục huấn luyện mãi đến mấy nghìn năm nay vẫn chưa hết người ngu si. Thậm chí ở một số nơi, kẻ ác tăng thêm, người lương thiện ít đi thì ai là thủ phạm của sự bất công này.
Vì vậy phải hiểu đúng theo giáo lý Đại Thừa Phật giáo là luật Nhân Quả như sau:
Người làm việc thiện nhiều thì đời sau sẽ thành thần để cứu người còn là người trên trái đất.
Người làm nhiều việc ác thì thành súc vật ở đời sau để đền tôi ác mình đã gây ra với nhiều người đời trước.
Người làm ác nhiều hơn thiện thì thành Quỷ tìm cách mê hoặc những người nhút nhát cũng biết thành quỷ như họ ở đời kiếp sau.
Tất cả những sự kém trí tuệ là vì chưa có trí tuệ toàn diện. Tất cả mọi sự độc ác là vì chưa có tâm biết nghĩ mình và tất cả mọi loài đều phải giúp đỡ lẫn nhau thì mới có cái năng lực gọi là toàn năng trong toàn thể xã hội loài người.
Tất cả những sự hơn kém nói trên đều từ nguồn gốc chung là không biết chính mình có Phật tính. 
Nhiều người hiểu sai Phật tính giống như Đại Ngã. Phật tính hoàn toàn khác vì đó là tính chung của tất cả các loại có thân thể và có tâm trong thân thể đó. Đó là tính biết kính trọng nhau, vì hiểu rằng mình đều có Phật tính.
Chính vì Phật tính là tính sáng suốt, tính thanh tịnh, tính cứu giúp nhau ( từ bi ). Vì tất cả ai có thân tâm cũng đều có tính đó từ lâu đời nhiều kiếp đến nay cho nên nói Phật tính là bình đẳng là không bao giờ bị tiêu diệt ( bất diệt ).
Không có thượng đế nào sinh ra Phật Tính, do đó Phật tính là Bất sinh.
Đến đây ta phải hiểu thêm là dù tất cả mọi loại đều có Phật tính nhưng chính họ lại quên. Họ quên vì họ mải mê theo đuổi cái hình dáng bề ngoài của thân thể thích cái thân đẹp, ghét cái thân xấu, lại tìm mọi cách vơ vào cho mình cái đẹp đẩy cho người khác loài khác cái xấu. Quen như thế mãi thì gọi là tham, ai nói mình tham thì mình không nhận lại cáu với người ta là sân. Có tham có Sân thì lại thêm Si mê. Rồi lại tham sân si mãi mãi cho đến nay thì làm sao có thể quay lại nhớ mình có Phật tính được nữa. Thế gọi là đã luẩn quẩn lại thêm luẩn quẩn, đã quanh co lại lắm quanh co.
Do đó, từ nhiều đời kiếp đến nay từ Phật tính bình đẳng này nhiều người đã dựa vào tu luyện trừ bỏ cái tham sân si từ gốc đến ngọn từ nhỏ đến lớn. Các vị này đã thành tựu quả vị về tâm ý, ý thức đến chỗ cao quý nhất là Phật. Các đức Phật có nhiều, chứ không phải có một như thượng đế, càng chứng minh cho chân lý là bình đẳng cho nên có nhiều Phật bình đẳng. Thành Phật không phải là có quyền ban phát muốn làm gì thì làm. Nếu Phật dạy mà ai chưa hiểu thì vẫn chưa thể thành Phật được. Chớ hiểu sai là Phật không biết cách dạy chúng sinh. Chỉ vì chúng sinh là loài có tính mạng, có tâm nhưng vì tham sân si lại giết tính mạng của loài khác để cho thoả mãn cái tham ăn tham uống của mình thì Phật chưa bảo được những người này. Họ quá vô duyên Phật chưa cứu được người vô duyên. Đến khi họ chịu hậu quả đau đớn bắt đầu biết hối hận thì là lúc Phật có thể dạy bảo họ được. Đó gọi là chưa độ, chứ không phải không độ được chúng sinh.
Lại có những người đã hối hận, bắt đầu bỏ tham sân si là 3 cái độc ác nhưng Phật vẫn chưa độ được họ vì theo luật nhân quả họ phải chịu trả nợ những tội ác họ đã gây ra rất nhiều trong nhiều đời kiếp. Đến khi trả nợ được rất nhiều rồi chỉ còn chút ít thì họ mới được Phật dạy bảo và nhanh chóng thành tựu việc tu luyện để họ sẽ thành Phật ở đời tương lai.
Do đó thành Phật là việc rất giản dị, vì chỉ quay lại với Phật tính sẵn có chứ không phải sáng tạo ra cái gì mới lạ. Nhưng cũng rất cao quý vì một người thành Phật thì giúp được rất nhiều người trừ mê, quay về chỗ giác ngộ là hiểu đúng mình có Phật tính đã chót bỏ quên, hiểu đúng mình đã hết mê muội có sự nhận thức đúng đắn, lại cũng giúp được nhiều người được như thế.
Đây là sự khác nhau của Thần Ngã và Phật tính. Tức là cái bình đẳng thì phải khác với cái bất bình đẳng. Cái giản dị thì phải khác với những cái hoang phí ảo tưởng. 
Điều chúng ta mong muốn là tất cả những ai muốn thành công tốt đẹp thì phải biết cái nhân tốt này là Phật tính, cái duyên tốt này là phải có giúp nhau thực hành theo Phật tính thì sẽ có kết quả lớn là thành Phật ở tương lai. Đó gọi là tương xứng là hoà nhập là trở về với nguồn gốc không phải là cái hoang đường ảo tưởng như người ta nói đã tu cao thì muốn làm gì thì làm, muốn ăn gì thì ăn, muốn uống gì thì uống. Nhiều cái muốn như thế thì sẽ thành vua của các loài ác gọi là Ma vương. Nhiều cái tham muốn là cái nhân ác, Ma vương là quả ác thì sẽ dẫn đến cái quả ác hơn là chỗ chịu khổ gọi là địa ngục. Ở địa ngục nếu biết hối hận thì còn có ngày ra. Nếu khôgn thì mãi mãi khổ ở các địa ngục đó.
Vậy các bạn hãy tự lựa chọn con đường đi cho chính mình. Đó gọi là Biển khổ mênh mông, quay đầu là tới bến. Cũng gọi là bóng tối lâu năm ánh sáng mặt trời chiếu đến thì lập tức tối hết sáng sinh ra. Cũng gọi là biết quay lại lúc lầm đường, biết dừng chân trước vực thẳm.
Mong rằng tất cả mọi ngừời cần hiểu thêm chúng ta ai cũng có cái tài riêng thì phải biết bổ sung cho nhau để cho có một xã hội hoàn thiện nhất. Đấy cũng là cái mà chư Phật gọi là các cõi Tịnh Độ của chư Phật là trường dạy học lớn tốt đẹp nhất cho mọi người cho đến tất cả chúng sinh. Ở đó có những ông thầy giáo gọi là A Di Đà, nghĩa là sáng suốt vô cùng, sống lâu vô cùng, đúng với cái nghĩa Phật tính là sáng suốt, không phải thượng đế sinh ra là Bất sinh, không phải kẻ nào tiêu diệt được Phật tính đó là Bất diệt. 
Đấy cũng chính là mỗi chúng ta là thượng đế của chính chúng ta, cũng như người ta thường nói khách hàng là thượng đế. Nhiều khách hàng tức là nhiều thượng đế. Không bao giờ chỉ có một cái gọi là thượng đế.

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

THIỀN LUẬN


Dậu-Kim tranh đạo luận. 
Tướng-Tính vốn một quân
Ác-thiện chia hai nhánh
Bản-thể một chữ: Thuần!
—-
Luận:
-Bức tranh Tổ sư chống gậy ngắm đôi gà chọi, do Musashi Miyamoto vẽ, kiếm sỹ thiên tài lừng lẫy người Nhật, một sát thủ giết người ko chớp mắt, cũng là tay tinh thâm thư họa, Phật giáo. 
- Dậu là gà, có ngũ hành thuộc Kim. Gà là nói về tướng. Kim là nói về tính chất, tuy hai nhưng là một tập khái niệm. 
- Trên đường hoá đạo Tổ đứng ngoài xem cuộc đấu của Dậu và Kim, cũng nghĩa là của Tướng và Tính, của Ác với Thiện. Bản thể vốn đứng ngoài đối đãi thế gian, nhưng lại trong cùng một cảnh.
Trong tiến trình giác ngộ của chúng sinh, kể từ sau thờ Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni thị hiện đản sinh, chỉ bày cho chúng sinh ngộ Phật tri kiến. Về các đời sau, vì chưa có được sự giác ngộ trọn vẹn, nên chưa có được góc nhìn như thị của Phật. Góc nhìn như thị chính là thấy rõ pháp giới như huyễn như hoá ở Tướng-Tính-Dụng-Lực-Tác-Nhân-Duyên-Quả-Báo-Mạt bản cứu kính. Quá trình hoá đạo ở khắp pháp giới, chư Phật và các vị Đại Bồ Tát, có khi dùng tướng, có khi dùng tính, có khi dùng nhân, có khi dùng duyên hoặc có khi dùng quả báo... để phương tiện tuỳ theo căn cơ của chúng sinh, giúp ngộ được Bản Thể vô tướng vô vi. Còn có phân biệt, còn có đấu tranh xung đột là còn bị kết sử chi phối, nghĩa là còn cái tướng sinh diệt. Có tướng sinh thì còn phải luân hồi, còn tướng diệt thì mãi khổ đau.
Vì chưa nhìn được tổng tướng của pháp giới nên người tu Phật theo cái định nghiệp của mình mà phân thành các khái niệm tu học Nam Bắc, Đại Tiểu, Gốc Ngọn, Nguyên Thuỷ-Phát triển... mà không biết đó chính là tập hợp các bài kinh của Phật về các khái niệm phương tiện khác nhau. Như Bắc Tông thì ưa luận giải về Tính của các pháp, Tính vốn vô hình vô tướng, vì vô tướng nên không trụ vào tướng nào, cho nên có thể hoá có thể hiện, có thể là trời có thể là quỷ...Phía Nam Tông thì ưa luận giải và học về Tướng tâm, đó là các bài pháp về đạo đức nhân sinh của người với người. Tướng và Tính chính là hai phần của Bản Thể Chân Như, Chân là chân thật, Như là như nhau không khác về mặt hoá độ. Như đã là một mà còn tranh đấu ai hơn ai kém, ai đúng ai sai thì thật là chưa rõ, nhưng cũng từ cái đối kháng đó, chúng ta nhận diện được và đứng ngoài cái phân biệt thì sẽ được cái toàn thể như chư Tổ đã đắc đạo.
Ý bức hoạ như vậy, nếu nhìn khác thì lại chẳng phải như thế. 

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Tự bạch



Kẻ hậu học tôi không "tiến" cũng chẳng " sĩ", chỉ tuỳ duyên của mình mà đến mà đi. Mọi cái " ám" thì nên "chỉ" ( dừng). Là Phật tử hữu duyên được các Minh Sư chỉ dạy những điều chân thật, không bài bác, chê kẻ còn trẻ, khinh người mới tu. Theo hạnh của Bồ Tát Thường Bất Khinh, Mọi sự là có hay là không thì cũng phải hướng đến sự tiến lên. Tránh đấu thi hơn thua, chấp lời chấp chữ, như tâm nguyện Chư Phật Bồ Tát mà xa rời các pháp đối đãi thể nhập với Trung đạo. Sự tướng thường huyễn hư chỉ có thật Tính là thường trụ cùng khắp. Cái tướng ngồi thì lúc có lúc không, nơi ngồi nơi đứng không cùng cho nên nếu có chỉ là diệu hữu của tính Chân Không. Chấp vào tướng thì là vọng chấp, Kinh Kim Cương dạy nên kiến cái vô tướng. Ưa cái tướng là tâm chúng sinh, Tỏ cái Tính thường trụ là tâm Chư Phật Bồ Tát. Để tiến lên thì chúng sinh phải học theo, nhìn theo cái nhìn của bậc thánh hiền, hành cái hạnh của Chư Bồ Tát mới là tâm của người Phật Tử. Cũng như sen ở trong bùn thì phải vươn lên mặt nước mà trổ bông, cứ ưa chấp cái tướng bùn thì chỉ có vô thuỷ chứ chẳng có hữu chung. 
Nếu không được như vậy thì tiếc lắm thay!

Tử vi luận

Giờ Ngọ, ngày 5 tháng 12 năm Canh Ngọ (1990)
1.  Theo phép Tuyển Tăng Đồ của Tổ sư Thiện Vô Uý Đường Tam Tạng. Người sinh năm Canh ngọ tháng 12 ngày 5 giờ Ngọ có bốn sao chiếu tương ứng như sau: Thiên Phúc, Thiên Văn, Thiên Nhẫn, Thiên Hao. 
Luận giải theo pháp của Tổ sư Vô Uý, người có bốn sao Phúc Văn Nhẫn Hao chiếu đời trước đã từng tu đạo giải thoát, cho nên đời này lại có nhiều nhân duyên học rộng giáo lý Phật đà. Do biệt nghiệp quá khứ nên đời nay làm người, có nhiều việc phải nhẫn-nhịn. Công việc dễ bị ngoại cảnh làm cho hao tổn nguồn lực, thời gian và tinh thần. Vì có hai sao tốt là Phúc và Văn, hai sao kém là Nhẫn và Hao, do đó mọi sự để được cân bằng nếu như khéo dụng tâm tu hành. Cụ thể, trong thì tu pháp quán niệm trừ vọng tưởng, ngoài thì hành hạnh từ bi hỷ xả, cái Nhẫn sẽ được chuyển An. Theo Phật pháp, cái Nhẫn gồm có nhẫn-trong và nhẫn-ngoài. Nhẫn trong là nhẫn với cái ham muốn của lục dục. Đó là những cái mê mờ của tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Nhẫn ngoài là nhẫn với lục trần, gồm: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là cách nhẫn được thì sẽ An. Khi đã có An sẽ duyên khởi theo cái Hao-tổn được chuyển thành sự Bố- Thí. Gọi là cho của được Phúc đức ở thế gian. 
2.  Nếu xét cảnh giới bốn đời gần nhất, bắt đầu từ cảnh giới Quỷ Thượng Phẩm tiến lên cảnh giới cõi Người, lại có hai đời gần nhất có duyên tu Phật. Vì là dư nghiệp cõi Quỷ nên phải tu Nhẫn để trừ cái sân hận, chấp thủ của tâm. Vì có hai đời tu Phật nên đời này tâm tính thiện lương. Nếu nhân cái thuận duyên đó mà tinh tiến thi hành thì hiện thời sẽ được phần nào tự tại mà tương lai đạo quả sẽ tốt lành. 
3.  Luận giải theo phép an sao tử vi của tổ sư Trần Đoàn. Người sinh năm 1990 tháng 12 ngày 5 giờ Ngọ, mệnh có Sao Thiên Lương tại Mùi, ứng với khí quẻ Lôi Địa Dự. Người có sao Thiên lương hợp với Bác sỹ, thầy giáo . Ngành nghề phù hợp với các nghề đào tạo, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Có thể kinh doanh các thiết bị liên quan đến Y tế, giáo dục. Nếu như làm về khoáng sản hay vật liệu từ gỗ thì hợp, từ đá thì trung bình. 
Mệnh có sao Thiên Lương thì cả đời không gặp bệnh hiểm nghèo. Sao Thiên lương an tại cung Dần tốt hơn an tại cung Mùi. Mùi thuộc âm Thổ nên Quẻ có ngũ hành Mộc và Thổ, ứng với hành của quẻ Dịch là Trạch Phong Đại Quá ( xem phần thiền luận về quẻ Đại Quá ), Khí của hai quẻ đều là Ngũ Quỷ. Cho nên cần đề phòng người ta lợi dụng cái thiện tâm của mình mà quấy nhiễu làm hỏng việc của mình. Luận theo Phật pháp, cung Mệnh có quẻ Quán ( Phong Địa Quán ) là tượng trưng cho sự quán sát. Ứng với hạnh từ bi của Bồ Tát Quán Âm. Cho nên thuận khí trong thì quán chiếu phá vỡ vô minh, ngoài thì quát xét để giúp đời thì sự lợi ích cho hiện tại và tương lai là không thể nghĩ bàn.
Lược dùng phép quán tâm mà nói, nếu tinh tiến tu hành, cắt đứt lậu hoặc thì dùng diệu quán là 5 phép quán của Bồ Tát Quán Âm đã tu hành. Năm pháp quán đó anh Quảng Kiến đã viết thành bài thơ như sau:
Chính quán Quán Âm đã luyện tu
Quán Chân đã phá hết lao tù
Quán tâm thanh tịnh không còn nhiễm
Quán từ bi quán hết mê ngu
Quán chân trí tuệ là tinh tiến
Quảng đại Phật thừa nguyện tịnh tu
Chính tín chúng con nghe Phật dạy
Muôn đời muôn kiếp khó không từ.
Xét cung Phúc Đức, có sao Thiên Tướng an tại cung Dậu được cách Miếu Địa ứng với sao Thiên Phúc theo tử vi Ấn độ, người có Tướng ở Phúc hiện đời thường gặp may mắn, vì cung Phúc đức có sao báo hiệu xấu là Kình dương nên chú ý đến sát khí, có nghĩa là khi làm việc phúc đức hay cúng dường cần có sự chú ý lựa chọn đúng người đúng việc, kẻo lựa chọn sai làm hại mình hại người. 
Xét cung Tật Ách, có Tử Vi và Thiên phủ hãm địa nên bệnh chú ý về dạ giày và đại tràng. Có sao Phi liêm nên chú ý bị các vật kim loại làm bị thương.
Xét cung Công Danh, có sao Thái Dương an tại Hợi, được khí Phúc Đức nên thường có các bổ nhiệm uy tín trong con đường công danh, vì Thái Dương ở Hợi là ban đêm, như mặt trời buổi tối nên không còn sáng. Nếu như tâm biết đủ thì thuận theo dòng thế gian vừa phải để dành không gian và tâm trí tu hành thì mặt trời sẽ rực rỡ dù ngày hay đêm.
Xét về đại vận từ năm 23 tuổi đến năm 43 tuổi rất thuận lợi, nên tranh thủ đại vận từ 33 tuổi đến 43 tuổi mà tích trữ nguồn lực đến sau 43 tuổi được tự do về mặt tài chính. Để thuận duyên tu tập, đón đại vận tiếp theo thiên về xuất thế gian.
————————
Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng
————————

Apr 30, 2019 at 12:13 AM