Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

TỊNH ĐỘ CHÂN THẬT CỦA CHƯ PHẬT

Phép tu Tịnh Độ

Thường ngày sau mỗi thời hành trì, dù là tụng kinh trì chú hay toạ thiền, chúng tôi thường kết thúc bằng lục hoằng thệ nguyện như sau:
Chúng sinh vô biên thề nguyện độ
Phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phúc trí vô biên thệ nguyện tu
Như Lai vô số thệ nguyện thị giả
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Pháp môn tu Phật thật là vô lượng, người con Phật đã phát tâm Vô thượng Bồ đề thì phải tinh tiến tu học theo các pháp môn Phật dạy để dần thanh tịnh thân tâm, học rộng để đắc Bát Nhã trí, song song độ mình độ người để cùng giải thoát mọi sự huyễn hư. Cái nhân Tinh tiến nhiều đời nhiều kiếp như thế cái Quả vị lai sẽ hội đủ ba đức của Niết Bàn gồm: đại Pháp thân là thật thể, đại Bát Nhã là thật trí, đại Giải Thoát là thật dụng.
Về phương diện Y Báo, thành Phật chính là biến cõi thế giới của mình thành cõi Tịnh Độ, Tịnh là thanh tịnh không có uế trược, Độ là môi trường phong thuỷ xuất thế gian ( Sở duyên duyên) để hoá độ chúng sinh.
Như vậy, pháp tu Tịnh độ vốn vô lượng, học mấy cũng không tới, suy nghiệm mấy cũng không cùng. Nhân duyên cùng sam học cùng chư vị đạo hữu, Quảng Kiến tôi nay tổng hợp các bài giảng của Ngài Trưởng Giả Tâm Minh Lê Đình Thám mong mỏi chia sẻ kiến thức Phật học, tất cả cùng chiêm nghiệm và ứng dụng giáo lý của Phật, chắn chắn hiện tại sẽ được đôi phần tự chủ mà công đức tu học về sau thật khó thể nghĩ bàn.
Phép tu Tịnh độ vẫn vô biên vô lượng, nhưng ước lượng cũng có thể gồm trong ba cách là: phép tu thật chứng Tịnh Độ, phép tu Tạo thành Tịnh Độ, phép tu vãng sinh Tịnh Độ.
I. Phép tu thật chứng Tịnh độ
Phép tu này cốt để cho người tu hành thiết thật chứng được cảnh giới thanh tịnh.
         Kinh Hoa Nghiêm có câu “ Nhất thế duy tâm tạo”, nghĩa là mọi sư sự vật vật đều do tâm tạo ra. Đạo lý duy tâm rất vi diệu, nhưng trong đời sống bình thường cũng có thể xét nhận rõ ràng. Như trong một cảnh, đồng một việc, người ưa thì thấy đẹp hay ho, người ghét thì thấy xấu xa vụng về, đó là một ví dụ về hoàn cảnh thường tuỳ theo tâm niệm mà thay đổi. Ở giữa đời biết bao nhiêu cảnh làm cho người cười kẻ khóc, người vui mừng kẻ buồn tức; lại người đương vui thì thấy cảnh nào cũng tươi đẹp, người đương lúc buồn thì cảnh nào cũng đeo sầu, vậy là tâm tạo ra rõ ràng. Thế mà chúng ta không rõ lý duy tâm, gặp cảnh ưa thì nghĩ thật đáng ưa mà sinh lòng tham, gặp cảnh mình ghét thì làm ra những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng, làm tổn hại cho mình cho người. Vì chúng ta còn tham chấp như vậy nên trong cảnh giới duy tâm, chúng ta mới phát ra năm điều ham muốn là Ngũ dục. Ngũ dụng là tài, sắc, danh, thực, thuỵ: Tài là ham muốn của cải, sắc là ham muốn sắc đẹp, danh là ham muốn danh tiếng, thực là ham muốn ăn uống, thuỵ là ham muốn ngủ nghỉ. Năm điều đó làm cho chúng ta say mê theo hoàn cảnh, dong ruổi theo hoàn cảnh, không lúc nào được thanh tịnh; mà tâm không thanh tịnh thì cảnh giới cũng hoá thành không thanh tịnh. Vậy người tu hành muốn thật chứng Tịnh độ trước hết cần dứt trừ năm điều ham muốn ấy, lấy sự dứt trừ ấy làm cái hy vọng, cái mục đích của cuộc đời mình, hằng ngày xét rõ cái nguyên nhân và cáu kết quả xấu xa của nó mà chán hẳn đi thì một ngày kia mới được ra khỏi vòng Ngũ dục và được tâm ly dục. Tâm được ly dục thì cảnh giới sẽ hoá ra an vui trong sạch, không còn gì làm cho tâm phải buồn rầu đau đớn nữa. Chừng ấy mới đem tâm ly dục mà tu phép Vô ngã để ra khỏi luân hồi, tu phép Bất nhị để chứng tính Chân như: Tâm càng thanh tịnh chừng nào thì cảnh giới càng thanh tịnh chừng ấy, đó là phép tu hành thật chứng Tịnh độ.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

THẤT ĐẠI DUYÊN KHỞI


Mọi sự vật tồn tại đều có lý và sự riêng. Lý là đặc tính cụ thể. Sự là hình tướng cụ thể. Khi hình tướng kết hợp với đặc tính thì gọi là có một thể chất của từng sự vật. Thể chất này tác động qua lại với một hoặc nhiều thể chất khác thì gọi là tác dụng của thể chất đó.

Mỗi một thể chất đều là những nguyên nhân cụ thể nào đó. Các nhân này cùng có trong một thời gian và cùng có trong một không gian thì mới có ý nghĩa phù hợp với các lý tính khác nhau. Lại các nhân này phải liên tục tồn tại thì ý nghĩa đó mới liên tục tồn tại. Lại có sự tác động có lợi nhiều đến các nhân thì các nhân mới phát triển mạnh. Lại có những tác động trái ngược các nhân thì lại làm cho các nhân suy yếu nhanh. Tất cả các sự việc đó gọi là nhân và các điều kiện tác động là duyên đến mức phát triển đầy đủ thì thành ra kết quả. Kết quả này có ảnh hưởng đến mọi kết quả khác thì gọi là báo. Lại có sức mạnh riêng để tồn tại và phát triển riêng thì gọi là Lực. Tác dụng tốt hay xấu thì gọi là Tác. Sau đó tạo ra những nguồn sinh lực mới thì gọi là Bản (nguồn gốc mới) và tạo ra sinh lực khác phụ trợ cho sinh lực này thì gọi là Mạt (cành lá ngọn mầm). Đó chính là tất cả những sự thật (Như Thị) của mọi sự mọi vật hiện tồn tại, đã tồn tại và sẽ tồn tại trong mọi không gian, trong mọi thời gian.
 Lý là đặc tính. Đặc tính chung của tất cả mọi sự vật là tính bất sinh bất diệt đồng thời cũng gọi là tính thường trụ. 
          Tất cả mọi sự vật tuy khác nhau nhiều về hình dáng ( tượng) nhưng quy lại thì chỉ có 7 cái lớn nhất tiêu biểu gọi là 7 đại ( địa, thủy, hỏa, phong ,không ,kiến. thức). Bảy đại này duyên khởi tạo ra Tâm-pháp và Sắc-pháp của vũ trụ pháp giới chúng sinh.
Tâm-pháp gồm Kiến đại Thức đại chính là nội nhân trong câu hữu nhân của mỗi chúng sinh. Sắc-pháp gồm Địa, Thủy, Hỏa, Phong chính là ngoại nhân trong câu hữu nhân của mỗi chúng sinh. Nội  nhân và ngoại nhân này tác động chi phối ảnh hưởng nhau thì đấy chính là nội duyên của mỗi chúng sinh. Tất cả ngoại cảnh tức là thế giới của chúng sinh đang ở bao gồm có các hành tinh, nhật (mặt trời), nguyệt (mặt trăng) chính là ngoại duyên của mỗi chúng sinh. Đây là vũ trụ quan và nhân sinh quan chân chính mà chư Phật đã dạy trong các khế kinh Đại Thừa.
Việc quán tưởng sâu sắc từ hình tướng đến tính chất của bảy đại sẽ giúp hành giả thâm nhập và tỏ ngộ được đức hạnh của chư Phật, cụ thể:
-       Quán Địa đại:
Địa là chất rắn có hình tướng có trọng lượng, có khối lượng chiếm một vị trí nhất định trong không gian, tồn tại một thời gian nhất định trong không gian. Địa là vật có tướng nhưng găp các điều kiện ( duyên) thì biến tướng đi. Ví dụ bị nóng chảy thì thành chất lỏng, tiếp tục nữa thì thành chất hơi khí vô hình. Vậy Địa là có tướng nhưng có lúc biến thành vô tướng. Lúc có tướng gọi là sắc, lúc vô tướng gọi là không. Do đó có thể nói Địa ( Sắc) tức thị không, bất dị không nghĩa là sự có tướng của Địa cũng là sự vô tướng của Địa. ( Tức thị là tức là, Bất dị là không khác)
Đại đại chỉ nơi bao gồm vạn vật, vạn vật lại sinh dưỡng nên chúng sinh. Bởi vậy bản thân đại địa đã bao gồm đủ các đức hạnh bao hàm và sinh dưỡng. Về mặt đức tính, địa đại chỉ nội tâm của chúng sinh, chính là cái tâm Bồ Đề. Tâm Bồ đề bao gồm đức hạnh vô lượng, có thể sinh dưỡng ra mọi phẩm đức, từ đó, giúp chúng ta có thể phát triển vô cùng vô tận các đức tính Phật, đó chính là tác dụng của tâm Bồ Đề. Trí tuệ Đại Viên Kính Trí được biểu hiện bởi Địa đại.
-       Quán Thủy Đại:
Thủy là chất lỏng có hình gặp lạnh là cái duyên thì thành cục nước đá là chất rắn vô hình, gặp nóng thì bốc hơi biến thành vô tướng đó là chất lỏng vô hình. Vậy cũng có thể nói Thủy tức thị không, thủy bất dị không.
Thủy đại tượng trưng cho cái đức thấm nhuần. Cũng như bản tính tự nhiên nếu không được nước pháp Cam Lồ mang trí tuệ và từ bi của Đức Phật tưới tắm chăm chút, thì hạt giống tâm Bồ Đề của chúng ta cũng không thể nảy mầm đâm nhánh. Trí tuệ Bình Đẳng tính biểu hiện bởi Thủy đại.
-       Quán Hỏa Đại:
Hỏa là chất nóng vô hình thì là luồng khí nóng. Chất nóng có hình là ngọn lửa. Vậy cũng có thể nói Hỏa bất dị không, hỏa tức thị không. 
Hỏa đại tượng trưng cho đức thành thục, đồng thời, cũng tượng trưng cho trí tuệ Diệu Quán Sát.
-       Quán Phong Đại:
Phong là sức chuyển động của Địa, Thủy, Hỏa cho nên cũng có thể nói Phong tức thị, bất dị không.
Phong đại tượng trưng cho cái đức của hành vi, duyên khởi và sự giải thoát. Trí tuệ Thành Sở tác tượng trưng bởi Phong Đại.
-       Quán Không đại:
Không là sự không tướng của Địa Thủy Hỏa vậy cũng có thể nói không tức thị, địa thủy hỏa nghĩa là cái không tướng của địa thủy hỏa cũng là cái có tướng của địa thủy hỏa. 
Không đại tượng trưng cho sự dung hòa của bốn đại địa, thủy, hỏa, phong ví như tất cả mọi hành vi của chúng sinh đều phải nượng tựa vào chân lý của Chư Phật (tính không) chính là trí tuệ Pháp giới thể tính.
-       Quán Kiến đại và Thức Đại: Tượng trưng cho sự nhận biết chân thật về mười phương pháp giới.
Năm đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không đều có một đặc điểm chung là lúc thì có tướng lúc thì không có tướng. Đó là vòng tròn sinh diệt, cái này có tướng thì cũng có lúc không có tướng. Cái kia cũng tương tự như vậy. Đó là Lý tính của năm đại địa thủy hỏa phong. Cũng gọi là lý tính của sắc pháp. Sắc là có hình tướng, Pháp là có tên gọi. Sắc pháp là năm đại có hình tướng riêng có tên gọi riêng.
Đặc biệt Tâm pháp gồm Kiến đại, nghĩa là tính thấy của mắt cùng với Thức đại là tính nhận biết của tai mắt mũi lưỡi và thân. Hai thành phần này luôn luôn là vô hình vô tướng nhưng lại có sự phân biệt rõ ràng hiểu biết rõ ràng năm đại trước, ghi nhớ không sai năm đại trước. Đó gọi là tâm pháp vô hình. Đã là vô hình thì trước sau đều là vô hình cho nên không có cái vòng tròn sinh diệt lúc thì có hình tướng lúc thì không có hình tướng như năm đại sắc pháp địa thủy hỏa phong. Không sinh diệt thì không đi về đâu cũng không đến chỗ nào đó gọi là bất sinh bất diệt. Cũng không có sự vay ở đâu, phải trả về đâu nên là bất khứ bất lai. Không có sự liên tục về hình tướng nên là bất thường, không có sự gián đoạn về hình tướng nên là bất đoạn. Có thể tác động với nhiều hình tướng khác nhau nên không phải là nhất. Có chung một tính vô tướng nên không phải là nhiều ( bất nhất bất dị).
Đặc tính chung của Bảy đại là nhân quả chuyển biến liên tục. Nhân luôn luôn biến thành quả, khi gặp các duyên tác động. Quả luôn luôn biến thành nhân cũng là khi gặp các duyên tác động. Do đó về lý tính mà nói thì không gì là Nhân hay quả. Nhưng về sự tướng mà nói thì có nhiều loại Nhân Quả khác nhau.
Lý tính bất sinh bất diệt gọi là Lý tính thướng trụ thì luôn luôn có các tác dụng kỳ diệu và hình tướng tốt đẹp rõ ràng. Đó là đặc tính riêng của Lý tính thường trụ:
1.       Bản lai thanh tịnh: Từ nhiều đời trước không có cái nhiễm uế ở bên trong
2.       Bản lai Cụ túc: Từ nhiều đời trước đã là nguồn gốc của mọi sự tướng tốt đẹp
3.       Bản lai bất động: Từ nhiều đời trước bất cứ một sự vật nào cũng không làm mất đi và phá hoại được bản tính này.
4.       Bản lai biến hiện: Từ nhiều đời trước đã biến hiện ra nhiều sự tướng khác nhau
5.       Bản lai thường trụ: Từ nhiều đời trước vốn không phải là do một cái gì sinh ra đó gội là bản hữu. Từ nhiều đời trước bất cứ một sức mạnh nào cũng không thể tiêu diệt được. Không bị sinh ra gọi là bất sinh. Không bị tiêu diệt gọi là bất diệt.
Năm phương diện này của lý tính thường trụ tác động lẫn nhau ở tất cả không gian, ở tất cả mọi thời gian. Không gian thì có 4 chiều: Dài rộng cao chéo. Thời gian thì có 3 thời quá khứ, hiện tại, tương lai. Sự tác động này qua nhiều tầng nhiều lớp khác nhau thì gọi là trùng trùng duyên khởi. Đây cũng là đặc tính của mọi sự vật có những giới hạn riêng biệt khác nhau thì gọi là pháp giới tính trùng trùng duyên khởi.
Tâm của tất cả mọi loài ở tất cả mọi cõi thế giới là một pháp trong vô lượng pháp. Vậy tính của tâm cũng là tính của pháp giới tính. Nghĩa là tính bất sinh bất diệt thường trụ của tâm cũng là pháp giới tính của tất cả mọi sự vật trong pháp giới vũ trụ ( Vũ là không gian vô biên, Trụ là thời gian vô tận ). 
Đặc tính chung của mọi sự vật là Pháp giới tính thường trụ nên gọi là Chân. Đặc tính này trước sau không hề thay đổi hay bị đảo lộn gọi là Như. Với một sự vật cụ thể thì Chân Như là bản thể của sự vật đó. Với tất cả các sự vật thì Chân Như là bản thể của tất cả các sự vật (cũng có nghĩa là hình tướng và Lý tính của tất cả các sự vật).
Chân Như là bản thể. Bản thể này không có một hình tướng riêng biệt nhưng lại duyên khởi ra nhiều hình tướng riêng biệt. Lại là vô tướng nhưng biến hiện ra nhiều hình tướng khác nhau cho nên gọi là Chân không. Các hình tướng khác nhau được Chân-không biến ra gọi là Diệu-hữu.
Vạn pháp bản lai chẳng có không
Có chăng thế tục nợ đèo bồng
Không là không tướng ta cần rõ
Diệu Hữu, Chân Không vốn vẫn đồng.

( Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng - Bài đăng tập san CHùa Hương năm 2017 )


Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

Thiên Địa Nhân năm 2017

Đầu năm mới Đinh Dậu, nhớ lại câu sấm ký của cụ Trạng Trình nói về vận cuộc (Thiên Địa Nhân) từ năm Nhâm Thìn đến năm Kỷ Hợi:
“ …Rồng (2012) vào bể cạn có ai hay…
Rắn ( 2013) mới hai-đầu khó chịu thay
Ngựa (2014) nó ra ngoài chuồng bỏ ngỏ
Dê (2015) kia làm quái phải quay đầu
Khỉ (2016) nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà (2017) kia vỗ cánh xào xạc bay
Chó vàng (2018) vẫy đuôi mừng thánh chúa
Lợn kia (2019) ủn ỉn lên chuồng nằm”

Khái niệm sấm ký là các lời văn hay thơ dự đoán tương lai căn cứ vào môn Chu dịch dựa vào tượng của thiên của địa của nhân sự mà tính quẻ kép để rõ tượng rõ cách cuộc và khí ( xu hướng ). Đó là cách dự đoán việc gần. Đối với các sự việc xa đến hàng trăm năm cần phải có sự tu chứng, nắm được then chốt của nhân-quả, nghĩa là biết nguyên nhân mà rõ được kết quả. Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Phật tử tại gia nghĩa là tu theo giáo lý của chư Phật có pháp danh là Bạch Vân cư sỹ. Sở học của cụ Trạng Trình để lại có nhiều, phần lớn được phổ biến là hệ thống các bài sấm ký, đời sau thấy chứng nghiệm rất đúng. Có chăng ngài đã nắm bắt được, hiểu rõ được cái thời của Thiên, cái lợi của Địa và cái hòa của Nhân!?
Bàn về Thiên Địa Nhân đúng đắn chính là bàn về các mối quan hệ mang tính Nhân Quả. Nói về nhân quả thì vật chất có nhân quả vật chất, tâm thức có nhân quả của tâm thức. Sự và lý này duyên khởi với nhau như-huyễn tạo ra môi trường hoạt động thiên thì biến, địa thì nhân thì đổi. Tu Phật không chấp ở sự mà cũng không bỏ sự, đó là lý “ Vô-chấp, Vô-thủ”. Khi rời cái Có-Không, Giống-Khác, Đến-Đi… thì tâm thường tự tại trong mọi hoàn cảnh đối đãi, dù gặp huyễn sự khó khăn gì cũng vượt qua bởi sẵn có tâm Vô-ngại. Để được như vậy phải thường thanh tịnh, tinh tiến học hiểu sâu sắc và sống theo giáo lý Phật để nhận diện sâu sắc về nỗi khổ niềm đau, xác thực được đâu là hạnh phúc chân thật. Thông qua quy trình sự tri-khổ ( nhận diện khổ đau), đoạn-tập ( nguyên nhân tạo ra nỗi khổ niềm đau ), chứng-diệt ( sống với tâm lạc thân an khi không còn nỗi khổ niềm đau ) và tu-đạo ( hành theo 37 Phẩm trợ đạo… ).
 Vạn vật trong vũ trụ từ vật chất ( có hình) đến tâm linh ( vô hình ) đều tuân theo quy luật Thành-Trụ-Hoại-Không. Mỗi mỗi yếu tố duyên khởi lẫn nhau, kết lại gọi là thành, tồn tại một khoảng thời gian là Trụ, biến đổi khi có yếu tố khác can thiệp hay chịu sự thay đổi của các thành phần nội bộ là Hoại, quá trình tan rã làm yếu tốt cho cái mới hay kết nạp thêm yếu tố ngoài để tạo ra Vật mới hay khái niệm mới gọi là Không. Chỉ có người thâm nhập sâu vào lý Nhân Quả và hằng sống trong tỉnh thức sẽ tỏ được cái kết QUẢ khi nắm bắt và nhận diện được nguồn gốc ( NHÂN ) thông qua môi trường ( DUYÊN ).
Phật pháp tại thế gian bất ly thế gian giác”. Nói lên tính tương tức của tiến trình từ pháp thế gian tiến lên pháp xuất thế gian. Trên con đường tu hành từ Tự-lợi ( cho mình ) đến Lợi-tha ( giúp người ), chúng tôi theo pháp Vị-nhân-Tất-Đàn, nhân duyên đầu năm mới 2017 mà đưa khái niệm Tam Tài để mạn đàm về  Thời cuộc ( Thiên Văn) về Môi trường hoạt động ( Địa lý ) và xu thế tư tưởng ( Nhân sự ).
Nói về nhân duyên năm Đinh Dậu, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “…Gà kia vỗ cánh xào xạc bay…”. Để bàn về đại vận quốc gia theo câu sấm này chúng tôi sẽ chia sẻ ở bài viết sau. Nay dựa theo môn khoa học thế gian là Chu Dịch để nói về Thiên thời địa lợi nhân hoà năm 2017:
THIÊN VĂN năm Đinh Dậu theo Nhị thập bát tú thuộc sao Lâu Kim Cẩu quẻ Càn, dương Kim. Ý là năm nay thiên nhiều về đức của quẻ Càn là sự mạnh mẽ . Ngũ hành Kim thuộc võ cách nên cũng là dự báo có nhiều sự khởi đầu lớn mạnh, các đại dự án lớn bắt đầu triển khai chế tài và các văn bản mới được ký kết làm nền tảng cho sự thay đổi mạnh về mọi mặt. Về mặt thời tiết năm 2017, mưa lũ nhiều. 
ĐỊA LÝ năm Đinh Dậu thuộc quẻ Càn Kim, nghĩa là năm nay môi trường hoạt động chung có được sự Phát triển mạnh. Giao dịch thương mại có nhiều cơ hội thực hiện. Vùng địa lý để phát triển BĐS thuộc về khu vực phía Đông, Tây Nam và Tây Bắc…
NHÂN SỰ năm Đinh Dậu theo ngũ hành là Hoả Trạch Khuê, nghĩa là chia lìa lý tán. Ứng với câu sấm ký của cụ Trạng Trình " ...gà kia vỗ cánh xào xạc bay. Tuy nhiên Hoả có đức sáng Đoài có đức vui, như vậy đối với người mà luôn sáng suốt, mang lại niềm vui thì lại tốt như việc xông dầu thơm, dù mình không được trực tiếp thì cũng hưởng lại phần lớn sự thơm tho tốt lành vậy. 

Như vậy năm Đinh Dậu theo Thiên Địa Nhân đối với dụng sự chúng ta cần năng làm việc thiện tích phúc đức để tương ứng với cách Thiên văn mà được quẻ dương Mộc đầy đủ Phúc - Lộc - Thọ.  Mọi việc thuận theo chính lý là luôn linh động, tinh tiến cố gắng để vượt qua khó khăn ban đầu thì về sau mọi việc đều được tốt đẹp. Đó là cách cục của quẻ kép Hoả Trạch Khuê xét chung cho cả Thiên Địa Nhân của năm Đinh Dậu 2017.

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016

Tham luận định hướng kiến trúc Phật giáo VIệt Nam

Văn hóa Phật giáo Việt Nam thống nhất trong đa dạng
------------------
Bài tham luận:
ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH THIẾT KẾ KIẾN TRÚC CHÙA VIỆT THEO NGUYÊN LÝ TỪ TƯỚNG TỚI TÍNH
(Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng)

Bàn về quy trình thiết kế, quy hoạch kiến trúc chùa Việt, là nói đến việc định hướng để giải quyết vấn đề trùng tu, xây dựng từ đúng đến đẹp. Đúng ở đây là Nhân, Đẹp là Quả. Nguyên lý Từ đúng đến đẹp xuyên suốt quá trình tôn tạo xây dựng chùa Việt là cốt lõi của bài tham luận này. 
Trước tiên giải thích đề mục: 
Định hướng - quy hoạch thiết kế kiến trúc - chùa Việt - theo nguyên lý - từ Tướng – tới Tính.
1- Về khái niệm “Định hướng”: giới hạn ở bài tham luận này chỉ nêu lên ý niệm về nguyên lý thiết lập đạo tràng tu học chân chính, Sở-duyên-duyên này là môi trường hỗ trợ cho chúng sinh tu Phật. 
2- Về vấn đề quy hoạch thiết kế kiến trúc: tham luận nêu lên quy trình để vật chất hóa ý niệm về không gian kiến trúc chùa Việt đương đại, đúng và đủ theo bố cục của thất đường Già Lam.
3- Bản sắc chùa việt: Tổng quan ý tưởng thiết kế chung các loại hình kiến trúc chùa Việt nam, từ chùa đồng bằng, chùa núi đến chùa phố…
4- Khái niệm "theo" là Phương tiện, cụ thể theo tứ tất đàn
- Vị nhân tất đàn: căn cứ vào căn cơ, thói quen và niềm tin của mọi người mà lựa chọn mô hình kiến trúc phù hợp.
- Thế giới tất đàn: thuận theo văn hóa địa lý, thiên văn thời tiết và môi trường địa chính trị xã hội mà thiết lập quy mô, nội dung sai biệt.
-  Đối trị tất đàn: Thuận theo hư huyễn mà lập
- Đệ nhất nghĩa đế tất đàn : Theo tướng để ly tướng, đạt được nhận thức căn bản về sự giác ngộ.
5- Nguyên lý: Bài tham luận này lập theo pháp Nhân Minh. Lập Tông là nói đến trạng thái, cảnh giới Giác ngộ của Chư Phật, Tổ. Lập Nhân là nói đến Bản tâm vốn đầy đủ không thừa không thiếu. Chúng sinh chỉ có thừa là do tam độc Tham-Sân-Si. Lập Dụ là việc thiết kế quy hoạch cảnh Chùa Việt làm duyên cho chúng sinh nhật thức được thực tại Chân Lý. 
6- Khái niệm " từ tướng đến tính". Thông qua phương tiện chọn đất, xem ngày, đến quy hoạch thiết kế và xây dựng cảnh chùa,... mục tiêu ở chỗ dẫn dụ, quy tụ tâm thức, cùng nhau hướng tới đạo quả giải thoát. Cụ thể: Từ Tướng là chuỗi quy trình quy hoạch xây dựng Chùa Việt, phát xuất bởi ý niệm thiết lập đạo tràng để tự-lợi, lợi-tha của chư Thầy-Tổ. --> Tâm tướng là hiện tướng cảnh chùa phải là hình sắc mô tả cái<--> Hữu chân thật ( Như Huyễn ) của Tính chân thường trụ.

Nay luận rõ về Định hướng quy hoạch kiến trúc chùa Việt đương đại theo nguyên lý từ Tướng tới Tính, như sau:
Dẫn nhập:
Giải pháp quy hoạch công trình kiến trúc, dù là thế gian hay xuất thế gian chính là sự kết hợp giữa nghệ thuật và kỹ thuật. Nghệ-thuật sáng tạo ra hình khối không gian còn kỹ-thuật  vật chất hoá những sáng tạo đó.
Pháp xuất thế gian có câu “ Bồ tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Quán chiếu điều này tới định hướng kiến trúc chùa Việt chính là việc tư duy cái Nhân, cái đúng trước, sau đó mới đến cái Đẹp tất yếu là Quả sau. 
Phần tham luận sau đây chúng tôi mạnh dạn giới thiệu khái niệm:  Định hướng - quy hoạch thiết kế kiến trúc - chùa Việt - theo nguyên lý - từ Tướng – tới Tính. Ngõ hầu giúp cho việc định hướng thiết kế có được ý tưởng tổng quát, hỗ trợ việc xây dựng chùa Việt đạt được tiêu chí đúng và đẹp, làm duyên giúp con người thông qua “Tướng” là cảnh chùa, trải nghiệm để nắm bắt “ Tác-Dụng”, rồi từ đó mà thông tỏ “ Thể tính” thì cũng là cách phổ quát và phát triển thêm nữa bản hoài của chư Thầy Tổ từ xưa đến nay trong việc tôn tạo cảnh chùa, xây dựng đạo tràng, làm phương tiện để dẫn dắt chúng ta trên con đường tu đạo vô thượng.
Kinh Phật dạy rằng:“Vạn Pháp do Tâm tạo, vạn vật đều tuân theo quy luật thành - trụ - hoại - không hoặc có hình hoặc không hình đều hội đủ cả Tướng Tính Thể Dụng.”
Khái niệm «Thể-Dụng-Tướng-Tính» này là chư pháp thật tướng trong kinh Pháp Hoa, nói về vạn hữu trong pháp giới đều có hình TƯỚNG kết hợp với TÍNH chất thành ra THỂ. Thể có ảnh hưởng tạo ra tác dụng là DỤNG, Dụng này có sự tương tác ra xung quanh là TÁC. Tác có lực nhất định gọi là LỰC. Lực này tạo ra kết quả là QUẢ. Quả có cái đối ứng lại gọi là BÁO. Tất cả có sự kết hợp như vậy gọi là DUYÊN. Duyên nào cũng có nguyên nhân là NHÂN. Nhân đều có nguồn gốc là BẢN. Tất cả đều có duyên khởi trùng trùng gọi là MẠT ( cành lá rễ...). Phần thập như thị ( TƯỚNG, TÍNH, THỂ, TÁC, LỰC, QUẢ, BÁO, NHÂN, DUYÊN, MẠT, BẢN) nói về tính thường trụ của vạn pháp, gọi là "chư pháp thật tướng".
Phần A: Định hướng theo Thập như thị
Quán chiếu theo 10 như thị tới việc xây dựng các hạng mục kiến trúc Chùa Việt điển hình như Tam Bảo, Nhà Tổ, Pháp đường, Tam quan, Trai đường, Tăng xá, Tẩn xứ…Bảy hạng mục chính ( Thất đường già lam) này là hình-tướng kiến trúc làm phương tiện phục vụ cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh. Dưới góc nhìn « Thập như thị » tư tưởng ứng dụng ý niệm từ hình khối kiến trúc và mỹ thuật Phật giáo vào việc quy hoạch thiết kế Chùa thuộc về phần Tính. Việc xây dựng trang trí nội ngoại thất thuộc phần Tướng. Quá trình hoạt động chung thuộc về Lực-Tác-Quả-Báo-Nhân-Duyên-Mạt-Bản. Cụ thể ứng dụng các thành phần đó vào thiết kế Chùa Việt như sau :
 1. Phần Tính chất (Ý tưởng)
Tính chất của việc quy hoạch thiết kế Chùa chính là ý niệm về việc tạo ra các công trình kiến trúc với không gian cảnh quan trang nghiêm, thể hiện sự tịch mặc, nơi tôn nghiêm, tôn trí hình tượng Phật, Tổ với các điển tích có nội dung giáo hóa để hàng đệ tử và Phật tử thập phương chiêm bái tưởng tới ơn đức hoá độ và công hạnh của chư Phật, Tổ để noi gương trên con đường tu đạo. 
2. Phần hình Tướng
Hình tướng các hạng mục công trình chùa gồm hình khối kiến trúc và hoạ tiết mỹ thuật trang trí. Công trình sau khi hoàn thành phải thể hiện được sự sáng tạo lớn trong việc kết hợp các không gian kiến trúc truyền thống với công nghệ hiện đại trong chế tác và tạo hình mỹ thuật. 
Việc bảo tồn và tuân thủ các giá trị kiến trúc của hệ cột, vì và mái đao truyền thống. Không gian kiến trúc và họa tiết trang trí phải được cân nhắc xử lý hài hoà, giải pháp kết cấu công trình nên ứng dụng cấu trúc nhịp lớn, xử lý kiến trúc cột tạo ra không gian tránh bị vướng tầm nhìn. Đây cũng là  ý niệm để đạt được sự thuần chất và không còn vướng mắc trong đạo pháp.
Về hoạ tiết kiến trúc ngoại thất, công trình nên sử dụng cách tân sáng tạo theo tỷ lệ và màu sắc của kiến trúc cổ Việt Nam. Hoạ tiết mỹ thuật thường được sử dụng trong kiến trúc chùa cổ phần nhiều có ý niệm về các lớp cánh sen nâng đỡ lẫn nhau đương nở rộ. Soi chiếu ngược về thân tâm chúng ta sẽ cảm nhận được nhân quả tương tục trong tiến trình giác ngộ của chính mình.
Về mỹ thuật, trang trí nội thất nên cấu thành từ vật liệu hiện đại, gia công bởi công nghệ siêu chính xác CNC. Ứng dụng này sẽ giúp việc trang trí không còn giới hạn về tạo tác khi thi công nên nội thất công trình Chùa bây giờ chính là không gian truyền thông hay nói đúng hơn việc chiêm ngưỡng và quán tưởng vào hình ảnh của các tích Phật chính là những bài pháp thâm sâu. 
3. Phần Dụng-Lực-Tác-Quả-Báo-Nhân-Duyên-Mạt-Bản
Phần Tính chất kết hợp với hình tướng thành ra Thể. Chùa Việt đương đại phải tạo ra được diện mạo công trình mới mà không mới. Mới ở đây là sự kết hợp sáng tạo Đông-Tây giữa lý tưởng Phật pháp thâm sâu và công nghệ hiện đại. Không mới là sự phù hợp với cảnh quan, đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tâm linh của đông đảo quần chúng nói chung và tạo ra đặc trưng theo văn hóa địa phương, theo pháp môn cụ thể, phần này thuộc về Dụng.
Phần B: Định hướng chùa Việt điển hình theo khái niệm từ tướng tới tính
Việc quy hoạch thiết kế và xây dựng cảnh chùa xét về mặt điển hình từ xưa tới nay, thông qua trục chính-đạo, được định vị bởi các công trình từ Tam quan đến Toà tam bảo và Nhà Tổ. Các hạng mục công trình phụ trợ khác tuỳ theo địa hình thế đất mà sắp đặt cho phù hợp. Việc tổ chức như vậy chính là môi trường giúp chúng ta mỗi khi vân tập về chùa có được sự thanh tịnh trang nghiêm toả ra từ hình khối kiến trúc và hoạ tiết trang trí mang đậm bản sắc Phật giáo, Sở-duyên-duyên này là cái duyên môi trường nuôi dưỡng và huân tập thiện pháp. Để rồi từ đó với chính Nhân là Phật tính thường trụ, chúng ta tu dưỡng ngay trong các nỗi khổ niềm đau của mình bằng sự ứng dụng giáo lý Phật đà vào thực tại đời sống, để cho mỗi mỗi hành động, mỗi mỗi ý niệm được thanh tịnh là Quả-Báo chân thật, đó là cội nguồn phát xuất niềm an lạc trong mỗi sát na sự sống, rồi với hạnh Đại thừa chúng ta chia sẻ, dẫn dắt kẻ hậu học để cùng tiến lên trong tương lai gần và làm tư lương cho chuỗi đời vô tận. Việc suy tư đúng và đầu tư đúng bắt đầu từ quá trình định hướng quy hoạch kiến trúc Chùa Việt phải đạt được dụng ý tối hậu chính là phương tiện để tạo ra Lực-Tác-Quả-Báo-Nhân-Duyên-Mạt-Bản như vậy.
Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm Kinh, phẩm Nhập pháp giới nói về cảnh Thiện Tài đồng tử vấn đạo vị thiện tri thức ở thành Sư Tử Phất Tấn, trong điện Tỳ Lô Giá Na Tạng. Sau khi phát tâm Bồ đề, được Bồ Tát Văn Thù khuyến tấn trên con đường sam đạo từ các vị thiện tri thức, học Bồ Tát hạnh và tu Bồ tát đạo để thành Bồ đề quả. Ở điện Tỳ Lô Giá Na tạng ngài được Từ Hạnh đồng nữ Bồ tát giới thiệu pháp môn Bát nhã Ba la mật phổ trang nghiêm là sở đắc của Bồ tát từ ba mươi sáu hằng sa chư Phật. Cốt yếu của pháp môn này là mỹ-thuật-hoá-Phật-giáo. Việc quán sát hình ảnh khắp cung điện, từ trần vách, cột… »mỗi tướng mỗi hình đều hiện pháp giới Như Lai từ sơ phát tâm tu hạnh Bồ tát thành mãn đại nguyện, đầy đủ công đức, thành Đẳng Chính Giác, chuyển diệu Pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập Niết Bàn. Tất cả ảnh tượng như vậy đều hiện rõ cả. Như trong nước thanh tịnh đứng lặng, thấy khắp hư không nhật nguyệt tinh tú… » Do từ công phu quán tưởng ảnh tượng đó mà Bồ Tát tuỳ thuận xu hướng tư duy quán sát ghi nhớ phân biệt liền được phổ môn đà la ni, trăm vạn vô số môn đà la ni đều hiện tiền.
Như thế mới rõ, việc ứng dụng và Phật hoá mỹ thuật trong việc quy hoạch thiết kế kiến trúc Chùa chính là những bài pháp vô ngôn trợ duyên và giúp chúng ta tu để chứng Phổ môn Đà la ni. Như hình tượng về điện Tỳ Lô Giá Na Tạng trong kinh Pháp Hoa nói lên ý niệm về pháp môn mật thừa với Bản Tôn là Phật Tỳ Lô Giá Na ( Phật Đại Nhật ) mà hình ảnh và các biểu tượng chủng tử tự, ẩn chứa sắc nét trong từng hoạ tiết mỹ thuật kiến trúc.
Tiểu kết:
Từ tướng-tới Tính, là việc quán sát, trải nghiệm từ hình tướng để giác ngộ bản chất của vạn pháp, sự hiện hữu Chân-thật thông qua hình tướng gọi là Diệu-hữu. Tướng thì vô thường, vô-cùng ( gồm cả lớn-bé, đẹp-xấu theo khái niệm phân biệt ), tiến trình tu chứng là quá trình quán niệm tới khi thành thục Thật-tướng, đạt được cái Vô-niệm của Thật tính. Vô-niệm là hết đi các vọng niệm, chỉ còn lại sự chân thật. Thật tướng mà bài tham luận này nói đến là thông qua quá trình hoạt động của con người trong môi trường không gian kiến trúc chùa Việt, với các phương tiện thiện xảo, hiện tướng bởi màu sắc, hình dạng, âm thanh… tác động tới tâm thức, mục đích giáo hoá chúng sinh ( con người ) rời cái ác, bỏ huyễn hư. Nhận rõ cái Chân thật, để từ đó sống cuộc đời hướng Thiện, tiến tới được sự hoàn-Mỹ trong mọi hoàn cảnh, trùm cả thời gian lẫn không gian ( Thời-Không). Đạt được cái đúng Chân là nhân, Thiện là duyên để tiến tới cái đẹp Mỹ là Quả. Từ tướng tới Tinh là quy trình duyên khởi của Chân-Thiện-Mỹ, yếu tố cốt lõi trong các ngôi Chùa Việt từ xưa đến nay và mãi về sau nhất định không được thay đổi.

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Luận đoán về năm 2016























Đầu năm mới Bính Thân, nhớ lại câu sấm ký của cụ Trạng Trình nói về vận cuộc (Thiên Địa Nhân) từ năm Nhâm Thìn đến năm Kỷ Hợi:
“ …Rồng (2012) vào bể cạn có ai hay…
Rắn ( 2013) mới hai-đầu khó chịu thay
Ngựa (2014) nó ra ngoài chuồng bỏ ngỏ
Dê (2015) kia làm quái phải quay đầu
Khỉ (2016) nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà (2017) kia vỗ cánh xào xạc bay
Chó vàng (2017) vẫy đuôi mừng thánh chúa
Lợn kia (2018) ủn ỉn lên chuồng nằm”

Khái niệm sấm ký là các lời văn hay thơ dự đoán tương lai căn cứ vào môn Chu dịch dựa vào tượng của thiên của địa của nhân sự mà tính quẻ kép để rõ tượng rõ cách cuộc và khí ( xu hướng ). Đó là cách dự đoán việc gần. Đối với các sự việc xa đến hàng trăm năm cần phải có sự tu chứng, nắm được then chốt của nhân-quả, nghĩa là biết nguyên nhân mà rõ được kết quả. Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Phật tử tại gia nghĩa là tu theo giáo lý của chư Phật có pháp danh là Bạch Vân cư sỹ. Sở học của cụ Trạng Trình để lại có nhiều, phần lớn được phổ biến là hệ thống các bài sấm ký, đời sau thấy chứng nghiệm rất đúng. Có chăng ngài đã nắm bắt được, hiểu rõ được cái thời của Thiên, cái lợi của Địa và cái hòa của Nhân!?
Bàn về Thiên Địa Nhân đúng đắn chính là bàn về các mối quan hệ mang tính Nhân Quả. Nói về nhân quả thì vật chất có nhân quả vật chất, tâm thức có nhân quả của tâm thức. Sự và lý này duyên khởi với nhau như-huyễn tạo ra môi trường hoạt động thiên thì biến, địa thì hoá, nhân thì đổi. Tu Phật không chấp ở sự mà cũng không bỏ sự, đó là lý “ Vô-chấp, Vô-thủ”. Khi rời cái Có-Không, Giống-Khác, Đến-Đi… thì tâm thường tự tại trong mọi hoàn cảnh đối đãi, dù gặp huyễn sự khó khăn gì cũng vượt qua bởi sẵn có tâm Vô-ngại. Để được như vậy phải thường thanh tịnh, tinh tiến học hiểu sâu sắc và sống theo giáo lý Phật để nhận diện sâu sắc về nỗi khổ niềm đau, xác thực được đâu là hạnh phúc chân thật. Thông qua quy trình sự tri-khổ ( nhận diện khổ đau), đoạn-tập ( nguyên nhân tạo ra nỗi khổ niềm đau ), chứng-diệt ( sống với tâm lạc thân an khi không còn nỗi khổ niềm đau ) và tu-đạo ( hành theo 37 Phẩm trợ đạo… ).
 Vạn vật trong vũ trụ từ vật chất ( có hình) đến tâm linh ( vô hình ) đều tuân theo quy luật Thành-Trụ-Hoại-Không. Mỗi mỗi yếu tố duyên khởi lẫn nhau, kết lại gọi là thành, tồn tại một khoảng thời gian là Trụ, biến đổi khi có yếu tố khác can thiệp hay chịu sự thay đổi của các thành phần nội bộ là Hoại, quá trình tan rã làm yếu tốt cho cái mới hay kết nạp thêm yếu tố ngoài để tạo ra Vật mới hay khái niệm mới gọi là Không. Chỉ có người thâm nhập sâu vào lý Nhân Quả và hằng sống trong tỉnh thức sẽ tỏ được cái kết QUẢ khi nắm bắt và nhận diện được nguồn gốc ( NHÂN ) thông qua môi trường ( DUYÊN ).
Phật pháp tại thế gian bất ly thế gian giác”. Nói lên tính tương tức của tiến trình từ pháp thế gian tiến lên pháp xuất thế gian. Trên con đường tu hành từ Tự-lợi ( cho mình ) đến Lợi-tha ( giúp người ), chúng tôi theo pháp Vị-nhân-Tất-Đàn, nhân duyên đầu năm mới 2016 mà đưa khái niệm Tam Tài để mạn đàm về  Thời cuộc ( Thiên Văn) về Môi trường hoạt động ( Địa lý ) và xu thế tư tưởng ( Nhân sự ).
Nói về nhân duyên năm Bính Thân 2016, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “…Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu…”. Để bàn về đại vận quốc gia theo câu sấm này chúng tôi sẽ chia sẻ ở bài viết sau. Nay dựa theo môn khoa học thế gian là Chu Dịch để bàn về Thiên thời địa lợi nhân hoà:
THIÊN VĂN năm Bính Thân theo Nhị thập bát tú thuộc sao Khuê Mộc Lang quẻ Chấn, dương Mộc. Ý là năm nay thiên nhiều về sự thay đổi theo đức của quẻ chấn là sự linh động. Ngũ hành Mộc thuộc văn cách nên cũng là dự báo có nhiều quy định quy chế, chế tài và các văn bản mới được ký kết làm nền tảng cho sự thay đổi dần về mọi mặt. Về mặt thời tiết năm 2016 nắng nhiều đặc biệt là khu vực phía nam theo luật tương sinh Mộc sinh Hoả ( Nam )
ĐỊA LÝ năm Bính Thân thuộc quẻ Khôn, nghĩa là năm nay môi trường hoạt động chung có được sự bình ổn của chữ Thuận. Vùng địa lý để phát triển BĐS thuộc về khu vực phía Bắc, Nam và Đông Bắc…
NHÂN SỰ năm Bính Thân theo ngũ hành là Sơn Hạ Hoả, ngũ hành Can Chi ra quẻ kép Thuỷ Thiên Nhu có tượng là Giếng khô sinh nước. Nghĩa là có nhiều cơ hội mới theo sự biến đổi của thiên thời.
Như vậy theo Thiên Địa Nhân năm Bính Thân 2016 thuận lợi cho người mang ngũ hành thuộc Mộc ( 1972,1973, 1980,1981…) hoặc ngũ hành thuộc mệnh Hoả ( 1978, 1979, 1986,1987…). Cụ thể cho các tuổi theo ngũ hành như sau:
 Những người mệnh Kim là kém nhất, để có được sự tương sinh theo ngũ hành sinh khắc và nắm bắt thời của thiên, lợi của địa cần năng hành hạnh Bố thí để lấy chữ Nhân thuộc Thổ trung hoà giữa Hoả và Kim theo phép “ tham sinh quên khắc”.
Người mệnh Thuỷ năm nay cần linh hoạt trong việc đầu tư ( chi nhiều ) mới có cơ hội tốt, tiêu biểu là hành từ thiện.
Người mệnh Mộc năm nay được vượng khí, cần nâng cao các kỹ năng và nhận thức để đón nhận và nắm bắt cơ hội. Tỉnh táo trong các việc đầu tư về BĐS…
Người mệnh Hoả năm 2016 được đắc địa, có nhiều thời cơ tốt về quan lộc và đất đai nhà cửa.
Người mệnh Thổ năm Bính Thân có ít cơ hội tốt do thiên thời thuộc Mộc khắc thổ. Về mặt địa lý là môi trường hoạt động lại rất thuận lợi. Cụ thể phù hợp với việc đầu tư về Bất động sản. Năng tu Thiền Định theo đạo Phật thì có được chữ Trí Hoả mà hoá giải các bất lợi trong đời sống…
Như vậy năm Bính Thân theo Thiên Địa Nhân đối với dụng sự chúng ta cần năng làm việc thiện tích phúc đức để tương ứng với cách Thiên văn mà được quẻ dương Mộc đầy đủ Phúc - Lộc - Thọ.  Mọi việc thuận theo chính lý là luôn linh động, tinh tiến cố gắng để vượt qua khó khăn ban đầu thì về sau mọi việc đều được tốt đẹp. Đó là cách cục của quẻ kép Sơn Hạ Hoả xét chung cho cả Thiên Địa Nhân của năm Bính Thân 2016.
Tạm kết:
Năm Bính Thân xin chúc các Đạo hữu cùng gia đình Thân Tâm thường An Lạc, mọi sự được Khinh An, sở cầu như ý sở nguyện đồng tâm. Nay theo lời chúc xưa kia của Chư Tổ chúc các Thiện Tri thức Dũng mãnh tinh tiến tu Đạo Vô Thượng, ban đầu tu theo Tam Không (Không, Vô tướng, Vô Tác) đạt được quả vị A LA HÁN tiểu thừa, BÍCH CHI trung thừa sau đó tu theo Tam Luân Thể Không (Không, Vô Tướng, Vô Nguyện) từng bước đạt được quả vị Bồ Tát xây dựng được cõi Tịnh Độ cho riêng mình cho tới khi viên mãn được Thanh Tịnh Pháp Thân quay trở lại giáo hóa chúng sinh.

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Ác Tâm - Ác Khí. Phong thủy GĐ&XH

Bài viết chuyên mục Kiến trúc - Phong thuỷ - Ứng dụng, báo gia đình và xã hội.


Lời bạch
Khoa học Phong Thuỷ đã ra đời cách đây hàng ngàn năm, là một môn khoa học thế gian đồ sộ, nghiên cứu ứng dụng Phong Thủy cho chúng ta lời khuyên về cách kiến tạo môi trường sống an lạc và tích cực.
Bàn về Phong Thủy chính là luận về khái niệm “động và tĩnh”. Động là sự linh động của Phong, tĩnh là sự tích tụ của Thủy. Việc ứng dụng Phong Thủy đúng, đồng nghĩa với gia đình có được môi trường tiện nghi, thuận lợi cho quá trình bồi dưỡng thân tâm, xuyên suốt thời gian và không gian sống để hội đủ điều kiện tích tụ về văn hóa lối sống thiện lành, rồi thông qua các mối quan hệ tương hỗ giữa các thành viên trong gia đình và xã hội, dần đạt được đạo lý sống tốt đẹp, như người xưa đã dạy: "Cách vật, trí tri, tề gia, an quốc, thái bình thiên hạ". Nghĩa là chúng ta khéo sắp xếp, khai thác sử dụng không gian vật chất hiệu quả, thấu rõ nguyên do của sự việc từ nguyên nhân đến kết quả. Nghĩa là việc duy trì các mối quan hệ đúng đắn và tốt đẹp, cụ thể: trong gia đình con với bố mẹ phải có được sự hiếu thảo, vợ chồng phải có được sự đồng thuận, anh đối với em phải có từ ái, em đối với anh phải thường kính trọng…Như vậy, đời sống gia đình tốt đẹp sẽ lan tỏa, làm chất liệu cho Quốc gia được an bình thịnh vượng. Rồi nhân sự tích tụ đó mà mỗi thành viên trong gia đình có môi trường làm lớn lên, nhiều hơn các việc thiện, tạo ra lợi ích cho chính mình, cho người và cho xã hội. Kết quả tất yếu này chính là việc ứng dụng được sự linh động của "Phong" và sự tích tụ, tích cực của "Thủy" theo thuyết Phong Thủy cổ truyền.
Ngày nay, khoa học ứng dụng phát triển thiên về vật chất, thời gian và tâm lực rong ruổi chạy theo dòng chảy của tiền tài. Sự suy nghiệm tâm thức suy giảm, do có ít thời gian trải nghiệm và nghiên cứu sâu sắc các khái niệm khoa học thế gian như Tử vi, Phong Thủy dẫn đến hoạt động thường ngày dễ bị các quan niệm sai lầm chi phối ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Thông qua chuyên mục nghiên cứu về Phong Thuỷ ứng dụng trong gia đình và xã hội, chúng tôi sẽ trình bày tuần tự, đầy đủ và đúng đắn các tri thức về khoa học Phong Thuỷ giúp độc giả qua đó xem xét, đối chiếu rồi ứng dụng, nhằm tránh được các quan niệm phong thủy mê lầm, để dần tạo ra môi trường sống tốt đẹp hơn cho mình và xã hội.
Phần ứng dụng:
Để giúp bạn đọc chọn hướng, vị trí cuộc đất, mua và xây nhà, chúng tôi xin giới thiệu một số nguyên lý, nguyên tắc chung nhất trong Phong Thủy, ứng dụng vào thiết kế, bố trí không gian nhà ở như sau:
Nguyên lý làm nhà theo Thiên-Văn, Địa-Lý, Dịch-Lý:
      Làm nhà theo Thiên Văn là việc chọn ảnh hưởng tốt nhất của mặt trời, mặt trăng và các tinh tú vào nhà. Đó là việt thiết kế không gian kiến trúc thông thoáng tạo ra môi trường vi khí hậu tốt nhất, bằng các giải pháp thông gió và chiếu sáng tự nhiên. Xây dựng phải gắn với mục tiêu tạo lập, gìn giữ, nuôi dưỡng môi trường xã hội - nhân văn, ổn định, bền vững.
      Làm nhà theo Địa lý là chọn vị trí, thế đất, phương hướng, bố cục thích hợp với tâm sinh lý của con người, làm cho không khí trong không gian ở được điều hòa, tạo lập cảnh quan hài hòa, bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực giữa công trình kiến trúc với cảnh quan xung quanh; khai thác và phát huy những yếu tố tự nhiên có lợi cho môi trường sống của con người.
      Làm nhà theo Dịch Lý là áp dụng các quy luật về âm dương ngũ hành, cửu cung bát quái để ngôi nhà có được sự ảnh hưởng tốt nhất của thiên nhiên, nâng cao hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; hạn chế tác động đến môi trường tự nhiên và giảm thiểu hiệu ứng nhà kính trong việc sử dụng tài nguyên đất đai, nước, năng lượng, vật liệu… tất cả phải hướng tới và phù hợp thói quen tốt đã huân tập từ lâu xa với sở thích lành mạnh hiện tại.
Nguyên tắc Nhất vị:
          Khoa Phong thuỷ cổ truyền dựa trên nguyên tắc “Nhất vị nhị hướng”, tức là vị trí quan trọng nhất rồi mới đến hướng tọa. Bất cứ công trình kiến trúc từ nhà ở, căn hộ hay văn phòng làm việc nào cũng chịu ảnh hưởng bởi hai loại khí, Phong thủy học gọi là Nguyên Khí và Thực Khí. Nguyên khí là dòng khí từ dưới đất bốc lên, khí của cửu cung trong vùng khí trường. Còn thực khí là khí nổi trên mặt đất, biến đổi linh hoạt không ngừng, khoa phong thuỷ lấy khái niệm bát khí để tượng trưng cho loại khí này. Cái sát của Thực Khí do các vật thể và công trình kiến trúc bên ngoài gây ra như một góc nhọn, một con đường (góc Ao, đao Đình) không hung hoạ bằng cái sát do Nguyên Khí xấu của bản trạch (âm khí) gây ra. Ví dụ nhà WC bố trí vào cung có khí quẻ tốt, như người sinh năm 1977, nhà hướng Tây, bố trí khu vệ sinh ở hướng vị Tây Nam là phạm khí mạch của quẻ kép Sơn Thiên Đại Súc, phạm cách hư Thổ dễ bị bệnh liên quan đến Dạ dày và đại tràng…
Cụ thể, chúng tôi xin nêu ra một số loại sát khí thuộc Thực Khí:
1.    Trực xung sát: Nhà phía trước mặt hoặc sau lưng bị một con đường hay dòng nước đâm thẳng vào.
2.    Tiêm xạ sát: là chỉ ngôi nhà bị hai con đường giao nhau tạo thành góc nhọn xung thẳng tới.
3.    Tà hoành sát: Là bị một con đường hay dòng nước đâm xéo tới.
4.    Liêm đao sát:Chỉ ngôi nhà phía trước mặt hay sau lưng có một con đường hay dòng sông ưỡn bụng hướng về tựa như cái lưỡi liềm đang cắt vào nhà.
5.    Thiên trảm sát (lưỡi đao trời): là chỉ nhà trước mặt hoặc sau lưng bị khoảng cách (khe hở) giữa hai nhầ cao tầng đối diện đâm thẳng tới.
6.    Phản quang sát:Nhà bị bức tường kính hoặc nhiều cửa kính lớn của một toà nhà đối diện phản chiếu ánh sáng vào.
Nguyên tắc về hướng tọa:
          Hướng trong Phong thủy là nói đến bốn phương tám hướng. Tùy theo ảnh hưởng của khí gì ở vào hướng vị nào mà có phương án đối trị riêng khác. Tựu chung có Bốn khí tốt và bốn khí xấu tương ứng với tám hướng là Bắc-Nam, Đông-Tây, Đông Bắc-Tây Nam, Tây Bắc-Đông Nam. Tám khí gồm: Phúc đức, Thiên Y, Sinh Khí, Phục Vị, Họa Hại, Tuyệt Chí, Lục Suy, Ngũ Hư.
Cụ thể nội dung và phương cách điều chỉnh cơ bản của bát khí như sau:
1. Sinh khí:  Là cát khí, chủ sự thông suốt, sinh sôi, nảy nở. Sinh khí chủ về phát Phúc, thăng tiến, thông minh sáng suốt, hiếu lễ, sự trung hậu, trước sau cẩn trọng.
2. Ngũ hư: Khí ra ngũ hư là hung;dễ gặp thị phi khẩu thiệt, gặp những sự quấy rối,phá ngang. Công việc tiến hành gặp nhiều trắc trở, lận đận khó thành. Phạm khí Ngũ hư nên thường làm việc từ thiện như cứu giúp người bệnh thì sẽ tốt đẹp.
3. Diên niên: Là cát khí biểu hiện dự vững vàng, thuận hoà, êm đẹp. Gặp khí Diên niên là gặp may mắn trong các quan hệ xã hội, kinh doanh thăng tiến, mưu sự đạt kết quả, tình duyên êm đềm.
4. Tuyệt Chí: Là hung khí. Tuyệt chí là hết đường, là sự chia cắt, ly tán, là tai ương tật ách. Gặp khí Tuyệt Chí gia đạo bất an, gặp sự chẳng lành, công việc, kinh doanh vướng mắc, gẫy đoạn khó thành. Phương cách chuyển hóa có nhiều, tốt nhất nên hướng thiện, sống lành mạnh với tâm bớt tham sân si thì hậu vận sẽ khá.
5. Thiên Y: Là cát khí, biểu hiện sự tăng tài, tiến lộc. Quẻ biến thành thiên y là được hộ trì, mưu sự thành đạt.
6. Lục Suy: Là Hung khí. Thể hiện có sự thiệt hại, đứt đoạn, mất mát những gì thuộc về chủ thể có quyền chăm sóc. Lục sát còn gọi là Vãng Vong chủ sự hao tán, mất mát, sức khoẻ suy kém, sinh khí hao tổn. Phương cách đối trị là năng hành hạnh phóng sinh các loài vật và cứu người nghèo khổ.
7. Hoạ Hại: Là hung khí, cũng giống như Lục Sát là biểu hiện tình duyên chia cắt, giao dịch thua thiệt, bệnh gia tăng, khí lực tổn thất, gia đạo bất an. Gặp khí họa hai thì gia đình nên tăng việc làm Phúc để phòng Họa, sống thiện lành để tích Đức mà trừ khí Họa hại.
8. Phục vị: Là khí quân bình cát hung biểu hiện sự yên bình và ổn định.

          Phương pháp chuyển hóa Nguyên Khí và Thực khí từ xấu thành tốt nêu trên có nhiều, chủ yếu theo nguyên lý: “Tâm đâu Ý đó, Ý sao Khí vậy”. Bản chất của việc chuyển hóa Khí xấu trong Phong Thủy ứng dụng chính là việc chuyển hóa các Tâm thức chưa tốt, theo thuyết nhân quả : Tâm thông thì Khí thông. Dụ như nhà phạm Khí Lục Suy thì chúng ta phải năng hành hạnh phóng sinh để biến Lục Suy thành Sinh Khí tốt đẹp.
          Tóm lại, nếu đời sống thường nhật chúng ta không có ác tâm thì sẽ không bao giờ có ác khí hóa hiện đến với mình và gia đình mình. Cũng như hoa Sen, nở trên cao nên vật hèn không thể lụy, nương vào chốn tịnh nên loại bẩn chẳng thể làm nhơ.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Tiểu thừa - Đại thừa thơ luận

Tiểu thừa
Chú Tiểu thấy có bến cũ phải về, bến hiện tại phải rời đi. Còn phân biệt mùa Xuân với mùa Thu bởi thấy thế gian lăn trôi từ sáng tới chiều, từ đông sang hạ tới, đó là:
Xuân Hạ Thu Đông sáng với chiều
Thế gian hết giận lại rồi yêu
Sáng còn ửng đỏ đôi gò má
Tối đã lom khom chống gậy sầu...
Cho nên chú Tiểu mới mong thoát ly thế gian thế tục để rời xa vọng tưởng. Quyết tâm rời vũng nước thế gian túng đã giam cầm Chân tâm của chú từ vô thủy kiếp.
Đại thừa
Thế gian hám cảnh vũng nước tù
Hành Bồ Tát đạo nguyện thanh tu
Uế tịnh ra sao đều huyễn cảnh
Đạo thành cũng bởi Lục-căn thu*

(*). "Thu nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế đắc đại chính định vi đệ nhất.
Bất nhiễm lục trần, vọng tâm tận diệt, thành vô thượng tuệ, thị tối thượng."

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

Khái niệm...nhầu


Giải thoát khái niệm
--------------------------
Giải-thoát tâm mình, giải-thoát đau
Vấn-vương nghiệp cũ, vấn-vương sầu
Tâm-ta vốn sẵn, tâm-ta nhớ
Nương-nhờ ngoại cảnh, nương-nhờ đâu
Tự-giác giác tha, tự-giác đúng
Tu-hành giải đãi, tu-hành lâu
Tử-Sinh khái niệm, tử-sinh khổ
Khái-niệm đoạn thường, khái-niệm nhàu!

Vạn pháp







Vạn pháp bản lai chẳng có không

Có chăng thế tục nợ đèo bồng

Không là không tướng ta cần rõ

Diệu hữu Chân không vốn vẫn đồng.

Lý tính bất sinh bất diệt gọi là Lý tính thướng trụ thì luôn luôn có các tác dụng kỳ diệu và hình tướng tốt đẹp rõ ràng. Đó là đặc tính riêng của Lý tính thường trụ:
1.       Bản lai thanh tịnh: Từ nhiều đời trước không có cái nhiễm uế ở bên trong
2.       Bản lai Cụ túc: Từ nhiều đời trước đã là nguồn gốc của mọi sự tướng tốt đẹp
3.       Bản lai bất động: Từ nhiều đời trước bất cứ một sự vật nào cũng không làm mất đi và phá hoại được bản tính này.
4.       Bản lai biến hiện: Từ nhiều đời trước đã biến hiện ra nhiều sự tướng khác nhau
5.       Bản lai thường trụ: Từ nhiều đời trước vốn không phải là do một cái gì sinh ra đó gội là bản hữu. Từ nhiều đời trước bất cứ một sức mạnh nào cũng không thể tiêu diệt được. Không bị sinh ra gọi là bất sinh. Không bị tiêu diệt gọi là bất diệt.
Năm phương diện này của lý tính thường trụ tác động lẫn nhau ở tất cả không gian, ở tất cả mọi thời gian. Không gian thì có 4 chiều: Dài rộng cao chéo. Thời gian thì có 3 thời quá khứ, hiện tại, tương lai. Sự tác động này qua nhiều tầng nhiều lớp khác nhau thì gọi là trùng trùng duyên khởi. Đây cũng là đặc tính của mọi sự vật có những giới hạn riêng biệt khác nhau thì gọi là pháp giới tính trùng trùng duyên khởi.
Tâm của tất cả mọi loài ở tất cả mọi cõi thế giới là một pháp trong vô lượng pháp. Vậy tính của tâm cũng là tính của pháp giới tính. Nghĩa là tính bất sinh bất diệt thường trụ của tâm cũng là pháp giới tính của tất cả mọi sự vật trong pháp giới vũ trụ ( Vũ là không gian vô biên, Trụ là thời gian vô tận ). 
Đặc tính chung của mọi sự vật là Pháp giới tính thường trụ nên gọi là Chân. Đặc tính này trước sau không hề thay đổi hay bị đảo lộn gọi là Như. Với một sự vật cụ thể thì Chân Như là bản thể của sự vật đó. Với tất cả các sự vật thì Chân Như là bản thể của tất cả các sự vật (cũng có nghĩa là hình tướng và Lý tính của tất cả các sự vật).

Chân Như là bản thể. Bản thể này không có một hình tướng riêng biệt nhưng lại duyên khởi ra nhiều hình tướng riêng biệt. Lại là vô tướng nhưng biến hiện ra nhiều hình tướng khác nhau cho nên gọi là Chân không. Các hình tướng khác nhau được Chân-không biến ra gọi là Diệu-hữu.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Thơ gửi Thầy nhân ngày kỷ niệm sáu năm Quy Y Tam bảo

Kính Thầy,
Quảng Kiến con nhớ về chốn Tổ viết rằng:
Thảnh thơi suối Yến một chiều
Nước trong cảnh tĩnh thêm yêu chùa nhà
Bao giờ rõ cái không-ta
Trời xanh hoa thắm cũng là Chân-Như.
Những khi nhớ Thầy, đệ tử cảm tới ơn giáo hoá của Người mà thường tinh tiến tu học giáo lý, để có được nhận thức đúng mà sống chính niệm trong những hoàn cảnh khác nhau. Với con, cảnh Chùa, hình bóng Thầy vẫn thường hiện rõ trong tâm trí. Ở Lào, nhà con trú sát bờ sông Mê kông, vào đêm vắng, ngồi tĩnh toạ, ngắm dòng sông trôi, quán chiếu về Chùa về Thầy mà viết:
Dong thuyền suối Yến chiều thu
Nhớ Hương Tích với Sư phụ Minh Hiền
Bao giờ lên Bát nhã thuyền
Mười phương pháp giới cũng miền Hương Thiên.

Hôm nay, kỷ niệm sáu năm, nhân duyên được Thầy thụ Tam Quy Ngũ giới. Tưởng về cuốn sách quý đầu tiên Thầy bố thí, quyển sách Bát Nhã tâm kinh. Kể từ đó, năm 2009 đến nay, hành trình học Phật pháp của con có nhiều thuận duyên, trải qua sóng gió về việc thế gian mà khoảng không gian và thời gian chính con dành cả cho việc nghiên cứu kinh điển. Hành trình sam học và tự giải đáp các khúc mắc về con đường trở về với Chân Tâm, kể ra cũng khá dài, nay con xin được giãi bày với Thầy bằng bài thơ ngắn "Bến Chân Tâm":
Tìm em ở bến Chân Tâm
Dong thuyền Bát-Nhã âm thầm Anh qua
Duy-thức tướng sóng gần xa
Lăng-nghiêm đại định, bao la đất trời
Pháp-hoa một đoá sen tươi
Ngời trong ánh mắt mười phương Ta bà
Chính tà một thể Duy-Ma
Rời xa vọng tưởng, Lăng-già truyền trao
Tĩnh tịch mặc kệ trần xao
Thấy em vẫn đó, chưa bao giờ rời.
Ngoài quyển Bát Nhã Tâm Kinh, bộ sách Luận đại trí độ Thầy đề tặng đệ tử, là những quyển sách con thường đọc tụng. Trải qua khoảng thời gian tịnh tâm ở Paske Lào, vào ngày thành đạo của Bồ Tát Quán Thế Âm, con đã viết bài " Mẹ Bát Nhã" cúng dường Tam Bảo, cúng dường Bồ Tát, hồi hướng tới ơn đức hoá độ của Thầy:

Mẹ từ tự tính sinh ra
Nuôi con khôn lớn dạy xa não phiền
Nơi võng ru tới mọi miền
Nương nhân duyên khởi tu thiền quán Không

Mẹ là giọt nước lành trong
Xoá tan hư huyễn thong dong đi về
Mười phương cũng một miền quê
Làm duyên khai ngộ giác mê cho người

Mẹ là một đoá hoa tươi
Điểm tô chân lý ở nơi hồng trần
Vì chúng sinh hiển pháp thân
Từ Bi Hỷ Xả thập phần viên thông

Muôn kiếp mẹ vẫn dõi trông
Giúp đàn con nhỏ thoát vòng tử sinh
Người là Bát Nhã Tâm Kinh
Dìu con từng bước tiến trình khai Tâm.

Bạch Thầy, theo sự nhận biết sơ cơ của Quảng Kiến thì việc nương vào thật tướng Bát Nhã để sống đời tự tại, dựa vào Bát Nhã trí mà thể nhập cảnh giới Vô sinh. Không tạo duyên sinh thì cũng đồng thời cắt đứt cái duyên diệt, dần thể với Nhất Như là tính bất sinh bất diệt. Cũng là việc nhập một với Tự Tính thanh tịnh tâm. Tự Tâm là nơi khởi nguồn Bát Nhã. Chuyển mê thành Ngộ là dụng của chính trí... Để từ đó có đủ phương tiện, đại nguyện, đại lực...mà thành tựu thập Ba la mật...thị hiện thành Phật. Từ sự chiêm nghiệm về tự tính như vậy mới thấy rõ cảnh giới thật chứng vốn lìa văn tự, rời ngôn thuyết, gượng mô tả Quảng Kiến mạo muội viết bài "Tự Tính" như sau:
Tự tính chỉ là tự tính thôi
Tính đi tính lại, tính luân hồi
Tuỳ duyên ảnh hiện mà Không- tính
Tự tính thế nào?... Tư tính coi?!
Việc thể nhập và sống đời hiện tại theo Tự-tính với Quảng Kiến giờ là sự sắp xếp lại duyên sinh. Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật thuyết dụ về việc cởi nút khăn: "lý thì từ tâm mà thông tỏ, sự phải theo thứ lớp mà trừ"...
Bạch Thầy, quá trình trải nghiệm tâm linh với con thật sự là vi diệu. Có rất nhiều lần, sau khoảng thời gian tịnh tâm chiêm nghiệm, đến lúc thông tỏ được khái niệm ngày đêm suy tư, con đạt được cảm giác rất kỳ lạ, đó là trạng thái đặc biệt, thường kéo dài từ một đến hai tuần.
Như sau khi chiêm nghiệm về pháp giới để phá khái niệm, con viết:
Phiền não đây rồi ,giải thoát thôi!
Kiếm tìm chi nữa để luân hồi
Xuống lên, sinh tử là quan niệm
Ôi! Tử với sinh vết "nhọ nồi"!!!
...
Khoảng thời gian như vậy trí tuệ con rất tốt, mọi việc đến đi khá tự tại với tâm vô cầu. Thật an lạc Thầy ạ.  Những lúc như vậy, nhìn sự gì vật gì con cũng có thể quán chiếu đến giáo pháp và làm thơ dễ dàng. Một bài thơ gần nhất của con được viết trong trạng thái tâm thức như vậy, thời gian sau đọc lại con nhận thấy mình chưa được hoàn toàn nên tạm đặt cho bài thơ tên là " Đại vọng ngữ":
Tìm kiếm lâu nay đã thấy rồi
Có-không sinh-tử sẽ ngừng thôi
Tài-danh sướng-khổ đà rơi hết
Sáng tối đêm ngày niệm chẳng trôi
Như-huyến viễn-ly là thật tướng
Ma ha Bát nhã hiển tính rồi
Từ nay tự tại và vô ngại
Xêp lại duyên sinh trải toạ ngồi.

Nội dung bài thơ chủ yếu là cái thấy của con từ giáo lý, chứ chưa có hằng sống được như vậy nên là " đại vọng ngữ ". Duy có câu cuối " xếp lại duyên sinh trải toạ ngồi" là cái thấy sâu sắc của con về thực tại hiện sinh. Để được tự tại và vô ngại thì cần nhập thế sống đời như là sự sắp xếp các nhân duyên để tránh tạo nghiệp ( vô sinh) và tự tại đón nhận để hoá giải ( pháp nhẫn) các biệt nghiệp đã tạo ra từ trước...
Là người Phật tử tu tại gia, Quảng Kiến con thường để tâm nghiên cứu nhiều về kinh Thắng Man và kinh Duy Ma Cật, nhằm có được nhận thức sâu sắc về hành Bồ Tát đạo, tu Bồ tát hành để thành Bồ đề quả.
Vào pháp môn Bất-nhị là nhận thức Người và Ta vốn không hai, không khác. Đó là:
Người về
từ chốn chẳng đi
Trụ nơi không chỗ
Vô vi tháng ngày.
Người về,
chốn chẳng chính tà.
Phật, Ma cũng vậy,
hoá ra độ người.
Ta về,
lấy cái không-Ta.
Tướng Ma tướng Phật,
rời xa huyễn hình.
Ta về,
với ánh Quang-Minh
Ngồi nơi tịch tĩnh
hiện hình Chân-Không.
Người-Ta
Cũng chẳng gần-xa
Nhập là không một
tách là Không-Hai.

Về Tự tính thanh tịnh Tâm theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm với sự hiểu của con là phá ngũ ấm ma, rời vọng tưởng, tỏ được tính Diệu-Minh, bàn về ngũ ấm con viết:
SẮC ẤM
Bất giác khởi nên hình
Sắc ấm từ tâm sinh
Luyến lưu cùng thức vọng
Chẳng thấy tính Diệu-Minh.
THỌ ẤM
Theo vọng ấy chúng sinh
Giác tâm theo thật lý
Vạn vật chẳng hợp ly
Bồ Đề thường tịch tĩnh.
TƯỞNG ẤM
Bóng kia bởi có hình
Chẳng diệt với chẳng sinh
Bọt nước thì cũng vậy
Lay động mới nên hình.
HÀNH ẤM
Bởi thấy Giác làm Minh
Nên hình thành Năng- Sở
Sáu căn thường trăn trở
Ngăn ngại tự tâm mình.
THỨC ẤM
Luyến lưu tình với cảnh
Đâu rồi cái Minh - Anh
Huyễn hư là không thật
Pháp giới Tính-Diệu thành.

Phá NGŨ ẤM ma:
Sáu căn tuỳ dụng công
Phát khởi tính viên thông
Ngoài tri và ngoài trí
Rõ mây nước vẫn đồng.

Trên đây là một số thấy biết của con trong khoảng thời gian vừa qua, Phật pháp vốn thậm thâm. Cần trải nghiệm và tu trì nhiều đời nhiều kiếp, sức và trí của con còn non yếu. Nay biên thư gửi Thầy, xin được bày tỏ và ngưỡng mong trên những chặng đường sắp tới được Thầy chỉ bảo thêm cho. Quảng Kiến con nguyện tinh tiến, không còn thối chuyển trên con đường tu Đạo vô thượng.
Sáu năm tu Phật không dài nhưng cũng chẳng ngắn. Vì nhiều nhân duyên: ĐÃ-ĐANG-ĐỂ, nay Quảng Kiến con tạm tổng kết, làm mốc quy chiếu mà tiến lên. Kính trình Thầy bài thơ và xin được tạm kết:
(ĐÃ)...
Sáu năm tu Phật chưa ngừng nghỉ
Chẳng có chi khoe, nỏ muốn gì
(ĐANG)...
Tu Mật, tham Thiền, hành Tịnh độ
Quán-Chân, ly-vọng: hướng Vô vi
Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Lăng Nghiêm... học
Ngũ ấm giai không, Ngũ-Trí trì
Vô-hữu, diệt-sinh...giờ khái niệm!
Từ Bi Hỷ Xả...hạnh đang vì.
(ĐỂ)...
"Vô tận không thời vô tận ý
Thị chưa từng bận huống gì phi.

Cuối thư, nguyện cầu Tam Bảo gia hộ Thầy vạn sự thường được khinh an, mãi là cội Bồ Đề để hàng đệ tử chúng con làm nơi nương tựa, noi theo đức hạnh của Thầy trong suốt tiến trình tu để chứng.
Kính thư,


Đệ tử Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng.