Thứ Tư, 20 tháng 3, 2024

ĐỊA LÝ HỒ THỦY TIÊN THÀNH PHỐ HUẾ



NĂM RỒNG BÀN VỀ RỒNG...ở Huế

Huế có một con rồng được xây dựng trên hồ Thủy tiên trong đồi Thiên an. Hiện nay đang là "linh vật" được giới trẻ chụp hình bắt trend Giáp Thìn. Năm 2016 tờ báo CNN của Mỹ đã giới thiệu về một địa điểm ma mị vô cùng đặc sắc mang tên Hồ Thủy Tiên. "sau bài báo này, khu du lịch bị bỏ hoang này lập tức thu hút khách nước ngoài đến check in vẻ đẹp đầy ma quái, rùng rợn của công viên".
Cảnh quan Hồ Thủy Tiên trước khi xây dựng vốn là một khung cảnh tự nhiên tuyệt đẹp bao bọc, với hồ nước trong vắt chưa khi nào bị cạn, nằm trên đồi Thiên An - nơi được mệnh danh là " Đà Lạt xứ Huế".
Bài viết này nhằm trả lời câu hỏi của một số người bạn về việc tai sao sau khi xây dựng con rồng trên hồ Thủy Tiên thì hồ thường xuyên bị cạn nước?.
Giới hạn ở bài nghiên cứu này chúng tôi căn cứ vào cách xem Thiên văn, Địa lý và Nhân sự là những vấn đề với các khái niệm có thể cùng nhau chấp nhận và thấu hiểu, gọi là dựa trên khoa học thường nghiệm.
Xét về thiên thời năm xây dựng công viên hồ Thủy Tiên từ Canh Thìn đến năm Tân Tỵ (2000-2001) ứng với câu sấm ký của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“ Rồng vào bể cạn có ai hay
Rắn mới hai đầu khó chịu thay…”
“Rồng” ứng với xây dựng con rồng bê tông, “bể cạn” ứng với năm Canh Thìn thuộc kim khí ứng với đầm cạn nước.
“Rắn mới” ứng với năm can chi Tân Tỵ (năm dương lịch 2001, Tân là mới, Tỵ là rắn).
Bài kệ như là dự đoán sự tướng nước trong hồ khô cạn và việc kinh doanh hoang tàn của dự án.
Tuy nhiên Thiên thời vốn xoay vần, nên hết xấu sẽ đến tốt, tại sao qua cái vận khó (22 năm kể từ ngày khởi công) mà vẫn chưa thông, chúng ta cần xét thêm vấn đề ở Địa lý.
Thông qua bình đồ tính toán (hình kèm theo bài), Hồ Thủy Tiên có hướng (trục mạch chảy) từ Tây Bắc xuống Đông Nam là cách vượng thủy khí, thủy sinh mộc nên xung quanh hồ xưa nay cây cối rất tươi xanh. Tại hai đầu trục là vị trí đắc địa và vượng địa của hồ. Không hiểu sao lại xây dựng con rồng ở vị trí long mạch (vượng địa) hướng Đông nam. Và ở vị trí Tây Bắc (đắc địa) thuộc Thủy khí lại xây dựng công trình cao có khối tích Thổ khí tạo ra sự xung đột về mặt Địa lý.
Vạn vật vốn vô tình, chỉ có tâm người hữu ý, ngoài Thiên thời và Địa lợi yếu tố Nhân hòa rất quan trọng để cho cấu trúc các công việc hay dự án được hoàn chỉnh và phát triển bền vững. Nhân hòa lại ở biệt nghiệp riêng của chủ sở hữu. Phần này do chưa có thông tin nên chưa tính rõ, nhưng thông qua kết quả kinh doanh hiện nay thì cũng phần nào dự đoán được Nhân hòa hiện ở trong đại vận kém.
Một số nhận xét theo thiên văn địa lý sơ bộ ở trên tạm để tham khảo và giải đáp, cũng là để trao đổi kiến thức về Địa lý với mọi người.
Mong sao sự thay đổi tới đây của UBND Thừa Thiên Huế về cải tạo dự án sẽ mang lại sắc màu xanh và trong trở lại cho khung cảnh tuyệt đẹp của hồ Thuỷ Tiên.

Thứ Hai, 12 tháng 2, 2024

THỎ NGỘ THANH LONG 2024




“Như thị ngã văn 

Chúng sinh đa nạn

Nhị thập nhật minh

Thỏ ngộ Thanh long

Kê khuyển ngộ xà

Địa tạng bồ tát

Tróc nã chư ma

Mười phương tôn phục

Tứ phương quy gia. “

     Đầu năm luận giải bài kệ sấm ký của Ngài Tuệ Trung Thượng sỹ, là thầy của Ngài sơ tổ Trúc Lâm (vua Trần Nhân Tông). 

     Năm 2024 có can chi Giáp Thìn là năm thanh long, ngày đầu năm mùng 1 cũng là ngày Giáp thìn, sự trùng lặp này theo lịch can chi 700 năm mới có một lần. Hiếm nên là quý, quý thì tốt. 

Nội dung dự đoán về vận hạn liên quan đến nước ta. 

Bài kệ nói đến “ thỏ ngộ thanh long” là ý nói đến từ năm Canh Tý (xưa gọi là Thỏ, sau này theo lịch can chi Tàu đổi thành Tý ) đến năm Giáp Thìn (2020-2023) chúng sinh đa nạn, ứng với khó khăn chung của thế giới về dịch bệnh, khó khăn kinh tế và bất ổn về chính trị. “ Địa tạng bồ tát tróc nã yêu ma” có nghĩa là có nhiều kẻ xấu phạm luật pháp bị bắt xử. Câu “ tứ phương quy gia” là nói đến từ năm 2024 sẽ có nhiều người nhiều tổ chức kinh tế xã hội ở khắp trên thế giới đặc biệt là những người gốc Việt sẽ quay về đầu tư phát triển tại nước Việt Nam. 

    P/s: bài thơ chúc tết mình sáng tác trong hình, cuối năm thường viết dạng liễn thư pháp để treo trong nhà bên nội ngoại và tặng người hữu duyên.

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2023

CON ĐƯỜNG THƯỢNG ĐẠO

 

ĐINH LONG PHẠM VŨ

                                              Con đường thượng Đạo

 

                                                                                                             Sonam - Quảng Kiến

 

11.   Con đường thượng Đạo và Phạm vũ trang nghiêm

Thắng cảnh đạt được ở vẻ hài hòa của núi non sông nước, tạo nên bản sắc phong thủy hữu vận lai niên. Đinh Long Phạm vũ là một trong các ngôi chùa thuộc dòng truyền thừa chốn Tổ chùa Hương Hà Nội, vị trí chùa Đinh Long án ngữ nút giao không gian sông núi tại thôn Đồng Văn, xã An phú, huyện Mỹ Đức, Thủ đô Hà Nội. Cùng với Hương Tích Tùng lâm và Diên Khánh Già lam tạo ra một tam giác cân với khoảng cách địa lý 7 km, hình thành nên cách cục “Vĩnh trấn sơn khê”.

Theo Lịch sử Phật giáo Việt NamĐại Việt sử ký bản kỷ toàn thư,  năm 968 sdl. Sau khi lên ngôi và lập ra nhà nước Đại Cồ Việt. Đinh Tiên Hoàng cho lập lại con đường dẫn từ Hoa Lư, Ninh Bình đến ….Thăng Long gọi là con đường thượng đạo. Khuông Việt quốc sư-tức đại sư Ngô Chân Lưu- cùng Nam Việt Vương Đinh Liễn trên đường từ Đường Lâm-Sơn Tây xuống Hoa Lư-Ninh Bình thấy nơi đây (Đồng Văn, xã An Phú, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội)  đường này vắng vẻ, cỏ cây rậm rạp  phong cảnh hữu tình, núi ôm sông bọc nên quốc sư đã cho lập chùa lấy tên là Đinh Long Phạm vũ làm nơi phụng Phật. Chữ Đinh là họ hoàng đế, chữ Long ứng với danh hiệu hoàng đế, cũng để mô tả dãy núi Hương Tích hùng vĩ ở bên tả thanh long của chùa.

Ngày nay vượng khí hội tụ, hội đủ duyên lành, Thượng tọa Thích Minh Hiền cùng Tăng chúng, Phật tử trong sơn môn và thiện tín thập phương phát tâm thiết kế quy hoạch xây dựng chùa Đinh Long, nhằm thiết lập đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh, tạo nơi quy ngưỡng cho quần chúng nhân dân gần xa về lễ Phật, chiêm bái cảnh chùa, rồi thuận duyên tu hành theo lời Thầy tổ để hiện tại thân tâm an lạc, vị lai được thành tựu như ý nguyện.

Nhân duyên nay xưa như vậy, chùa Đinh Long với vị thế đặc biệt của mình hiện tại được tạo thành bởi trục chính đạo theo hướng Đinh tọa Quý (hướng Nam) với điểm nhấn kiến trúc bắt đầu là công trình bảo tháp Liên Hoa cao 52m, kết thúc bởi tòa Đại Hùng bảo điện. Ngôi Tam bảo được thiết kế hình chữ công, chồng rường đấu củng, hệ thống mái gỗ trùng thiềm điệp ốc-trùng trùng điệp điệp với 20 mái hoa đao hiếm có trong thời đại hiện nay. Tổng thể không gian kiến trúc chùa được cấu thành bởi các hạng mục theo quy chuẩn của  thất đường Già lam, hướng Ly và hướng Đoài được bao bọc bởi các đầm sen, hướng Chấn và Khảm là trục đường vua Đinh uốn lượn theo dòng sông Thanh Hà. Tổng thể mặt bằng chùa hình chiếc lá Bồ đề, biểu tượng con thuyền Bát nhã đưa chúng sinh về bến Giác. Đó là nhân và cũng là duyên tôn tạo xây dựng Đinh Long Phạm vũ.

2.     Sở duyên duyên

Khế kinh đại thừa Pháp tướng tông có nhiều bài nói về cái duyên. Trong bốn duyên là Nhân Duyên, Đẳng vô gián duyên, Sở duyên duyên, Tăng thượng duyên. Suy luận về việc thế gian thì Nhân duyên là cái duyên của Nhân tài, Tăng thượng duyên là cái duyên của Thiên tài. Sở duyên duyên là cái duyên của Địa tài. Nhân tài là nhân hòa nhân sự, Thiên tài là thiên văn thiên thời. Địa tài là địa lý, địa lợi. Duyên thứ tư là Đẳng vô gián duyên là duyên chung của cả ba Thiên-Địa-Nhân.

Việc xây dựng bảo tháp Liên hoa và các hạng mục công trình chùa Đinh Long chính là sở duyên duyên, là cái duyên môi trường để trợ lực cho chúng sinh từ thế gian tiến lên cảnh giới xuất thế gian. Mặt bằng tháp là cấu trúc đồ hình Mandala với bốn cửa tượng trưng cho tứ trí, bao gồm: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quán sát trí và Thành sở tác trí, vị trí đỉnh tháp ở giữa đại diện cho Pháp giới thể tính trí là tổng hợp của bốn trí xuất thế gian được chuyển hóa từ bát thức. Chiều cao tháp là 51,8 m, với 13 tầng mái và đỉnh tháp được chế tác bằng đồng(trên 2,1 tấn). Tại bốn cạnh của mỗi tầng tháp được tôn trí tượng Bồ tát Quán Âm. Tầng tháp trên cùng tôn trí tôn tượng Đại Nhật Như Lai. Tổng thể cấu trúc các tầng mái thu dần tạo hình một búp sen thanh tịnh, biểu tượng cho Phật tính thanh tịnh thường trụ của tất cả chúng sinh.

       Người xưa tin rằng tạo tháp làm hưng khởi việc học, khoa cử công danh đỗ đạt. Thường những địa phương nào kém đường học vấn, lâu năm không có người đỗ đạt thì chọn đất dựng Văn bút tháp, đó là dụng sự của pháp thế gian. Việc tạo dựng bảo tháp Liên Hoa về mặt trợ duyên cũng như vậy. Phong thủy Địa lý là pháp thế gian là cái phần tướng của Sở Duyên Duyên. Cách cuộc tốt đẹp của phong thủy sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội, tạo ra nhiều thế hệ nhân tài. Tích tụ lâu ngày sẽ tạ ra nền văn hiến. Cái văn hiến của thế gian nếu biết dùng đúng chỗ đúng lúc thì cũng là cái duyên cho chúng sinh xuất thế gian theo Phật Pháp. Theo phong thủy học, các hướng nam trũng, đất nhẹ, địa khí tràn ra, khó có nhân tài, vì thế thường dựng tháp để trấn địa, tháp hình búp sen như ngọn bút là biểu tượng của giáo hoá, học hành.  

      Việc này phù hợp với lời dạy của Đức Phật ở kinh Thủ Lăng Nghiêm. Khi nói về phép viên thông Địa Đại, Đức Phật nói với Bồ tát Trì Địa tu pháp môn này chuyên môn làm việc phúc đức xây dựng chùa để làm đạo tràng tu tập hay làm đường, làm cầu, làm nhà cho dân chúng. Sau này Trì Địa Bồ tát gặp Đức Phật Không Vương. Đức Phật dạy ông làm việc tốt này nhưng cần phải hiểu cái tâm. Tâm có bình đẳng tốt đẹp thì thế giới mới bình đẳng tốt đẹp. Đúng như câu nói của chư Tổ:

Có Tâm thế gian tốt đẹp là có thiện hữu lậu. Có thiện hữu lậu thì sẽ có Long mạch tụ chính khí.

Có Tâm xuất thế gian bình đẳng thì sẽ có các cõi Tịnh Độ thập phương thanh tịnh tốt đẹp.

   Quan điểm của nhà Phật đối với phong thuỷ địa lý xưa cũng như nay là “Trạch đắc long xà địa khả cư” cuộc đất đắc địa thì môi trường xung quanh tốt đẹp. Song quan trọng hơn cả là trong lòng-nội tâm- cũng phải có phong thuỷ tốt đẹp. Nghĩa là nội tâm con người có:

- Thông gió tốt (Dòng suy nghĩ thông suốt)

- Ánh nắng tốt (Nhiệt tâm, cởi mở)

- Tầm nhìn tốt (Hướng tới tương lai)

- Con đường tốt (Bồ đề chính Đạo)

 Đây chính là long mạch tốt đẹp nhất, tuyệt vời nhất trong nội tâm mỗi con người. Như ta biết vạn vật trên thế gian này, chúng ta phải quan sát thấu đáo, thấu triệt. Hiểu rõ thiên có thiên lý, địa có địa lý, nhân có nhân lý, vật có vật lý, tâm có tâm lý…Trong thế giới Sa bà duyên sinh này, bất kỳ vật gì cũng có cái lý riêng biệt của nó. Địa lý phong thuỷ đương nhiên cũng nguyên lý. Địa lý là dựa vào địa hình và phương vị thiên thể mà sinh ra ảnh hưởng tác động tới con người, đây phương thức hoàn toàn tự nhiên. Thuận theo lẽ tự nhiên thì ta có thể nắm được thời cơ thuận lợi, đạt được địa thế tốt của núi sông, đất nước. Trái với lẽ tự nhiên, sẽ có kết quả ngược lại. Địa lý phong thuỷ cố nhiên có nguyên lý của nó. Song không phải là chân lý cứu cánh.

    Quan điểm của Phật giáo về thời – không (không gian bốn thời gian ba) là vô biên, vô cùng vô tận, không có ranh giới. Sinh mệnh của ta ở khắp nơi, không chỗ nào không có mặt thì làm gì có chuyện phân chia phương vị thời – không. Bản thể tự tâm chúng ta chu biến khắp pháp giới, khắp cõi hư không, ngang khắp mười phương, dọc cùng ba đời (quá-hiện-vị lai). Dung hoà nhất thể với thời - không vô hạn, vì vậy phương vị không ở đâu khác, mà nó ở ngay trong nội tâm của mỗi con người.

Sách “Sơn thủy trung can tập” viết rõ : “Núi hướng về không bằng có dòng nước hướng về, dòng nước hướng về không bằng có dòng nước vây quanh, dòng nước vây quanh không bằng có dòng nước tụ. Dòng nước tụ thì long hội, long hội thì đất lớn”. Đây chính là địa lý phong thuỷ của chùa Đinh Long, lời nói không tới, chỉ khi chúng ta trực hiện mới có thể thấy và biết.

Vậy có thơ rằng:

Tịnh tướng, tính chân: thể đó mà

Vô biên diệu dụng: Nhất liên hoa

Lá cành cội rễ thành hoa quả

Lâu chóng nhỏ to lực tác ra

Duyên khởi trùng trùng: vô lượng pháp

Nhị môn tích bản: Nhất là đa

Thị khai ngộ nhập Phật tri kiến

Diệu pháp Liên Hoa: tướng Phật đà.

 

                                                          Long thành, trọng đông Quý Mão-2023


Thứ Hai, 29 tháng 5, 2023

Bài tham luận kiến trúc chùa Việt, thống nhất trong đa dạng:

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG KIẾN THIẾT CHÙA VIỆT

Ths MBA. KTS. Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng

(Nội dung của bài tham luận của chúng tôi mạnh dạn nêu khái quát chung về quy hoạch, thiết kế xây dựng kiến trúc chùa Việt thông qua kinh nghiệm làm việc thực tế trên 20 năm của một Kiến trúc sư.)

Căn cứ vào thực tế hiện trạng, một ngôi chùa muốn xây mới, tu bổ hay mở rộng sẽ chịu ảnh hưởng quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau về quy mô, địa hình, khí hậu, nhu cầu sử dụng…Sự ảnh hưởng đó tạo nên bản sắc với nét đặc trưng riêng của từng ngôi chùa.

Tuy nhiên cấu trúc một ngôi chùa luôn phải tuân theo các nguyên tắc chung sau:



1.     Định hướng quy hoạch 

1.1.  Nguyên tắc Chọn đất và ngày tốt giờ tốt: Theo quan niệm xưa nay việc chọn đất và hướng xây dựng mở rộng chùa có một ảnh hưởng to lớn đối với con người sống trên đó. Kinh nghiệm cho thấy đất xây chùa tốt là nơi bên trái trống không hoặc có sông ngòi, hồ ao ôm bọc. Bên phải có núi hay công trình phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phan, bảo cái, hoặc có hình rồng phượng, quy xà chầu bái. Thủy thì nên chú ý thủy khứ, thủy lai, thủy (nước) nên chảy quanh sang trái. Thế đất trước mặt nên tạo khoảng trống làm minh đường. Tiền minh đường là hướng trước mặt nếu có lưu thủy dòng chảy, có tụ thủy thành hồ ao lại thêm tốt. Hậu ngai tọa (phần không gian phía sau chùa) không cần phải có thế núi áp kề nhưng cần nhất phải có khoảng đất rộng sau lưng Chùa là cách có Địa Hậu thì những vị trụ trì ở đó sẽ được cách tương lai có nhiều đệ tử tốt kế tục được sự nghiệp của mình.

Việc chọn ngày giờ tốt để tiến hành khởi công xây dựng mở rộng nên theo các phép xem ngày giờ được lưu truyền lại chọn ra ngày giờ phù hợp thuận tiện cho việc mở đầu và kết thúc được viên mãn. 

1.2.  Nguyên tắc chọn Hồng Chùa: căn cứ vào hiện trạng mà bố trí để thuận cho việc giao thông. Thông thường hướng Chùa được bố trí theo ba hướng sau: 

-  Hướng Tây: Là hướng về đất Phật lịch sử, là hướng chung của các ngôi chùa cổ như: Chùa Dâu, Chùa Phật Tích, Chùa Pháp Vân,Chùa Chân Tiên…

- Hướng Nam (Từ Hướng Đông Nam đến Tây Nam), đây là hướng phù hợp với các vùng địa lý có khí hậu khắc nghiệt. Bố trí hướng chùa theo các hướng Nam để tránh rét về mùa đông có được sự mát mẻ về mùa hè.

- Hướng Đông: Đa phần các chùa Tiểu Thừa Khơme Nam bộ bố trí hướng chùa về hướng Đông, đây là hướng nhìn của đức Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi ngài đắc đạo tại cội Bồ Đề.

Như vậy dù là hướng Tây, Nam Đông khi định vị các hạng mục cần tuân theo quy hoạch tổng thể đã định trước, theo một số sách cổ để lại căn cứ vào hướng chính chú ý chọn kỹ để được hướng thuận về Thiên- Địa - Nhân gọi là hướng Bảo Châu.

Tóm lại: Quy trình chọn hướng, thế đất và ngày giờ tốt phải được coi là phương tiện để cho mọi việc được thuận lợi và có kế hoạch rõ ràng, tạo nên tinh thần quyết tâm cao nhất trong việc xây dựng tu bổ Chùa.

 

2.     Thiết kế kiến trúc Chùa với các nguyên tắc căn bản

Bố cục trong kiến trúc chùa truyền thống Việt Nam từ xưa đến nay đều phải đầy đủ các hạng mục theo thất đường Già lam và phải tuân theo một số quy luật và nguyên tắc tạo hình: thống nhất và biến hoá, tương phản và dị biến, vần luật và nhịp điệu.

2.1.  Bố cục kiến trúc: Tổng thể khuôn viên chùa thường được bố trí đăng đối qua một trục (gọi là trục Chính Đạo hoặc được bố trí xoay quanh một tâm điểm ( Tháp Phật, đài Quan Âm) tạo sự cân bằng, trang nghiêm bề thế cho công trình. Ngay trong mặt bằng công trình cũng được bố trí hợp khối từ những hình chữ nhật để tạo nên sự cân bằng và ổn định. Bố trí tượng thờ trong mặt bằng cũng thường được bố trí đăng đối qua trục. Ðối với các công trình phụ khác trong khuôn viên, thông thường nếu có đủ diện tích thì người ta cũng xây dựng theo kiểu đối xứng. Tuy nhiên tuỳ theo địa hình và nhu cầu xây dựng mà có những thay đổi phù hợp. Với các công trình như vườn tháp, gác chuông lại có dạng bố cục hướng tâm, mặt bằng có thể là hình vuông, hình lục giác, hình bát giác hoặc hình tròn.

2.2.  Nguyên tắc trọng điểm của việc thiết kế bố cục kiến trúc chùa: Phần kiến trúc chính (Đại Hùng Bảo Điện) nằm trên trục chính Đạo bao giờ cũng rộng nhất và thường cao nhất được tập trung mọi tinh hoa kiến trúc và nghệ thuật. 

2.3.  Ðặc thù nghệ thuật trong tạo hình kiến trúc nói chung và chùa được biểu hiện rõ nét ở mối tương quan tỷ lệ. Tỷ lệ chính trong bản thân, giữa cái lớn cái bé, cái chung cái chi tiết, tỷ lệ giữa các chiều trong không gian,... Và được thể hiện cả ở mối tương quan giữa công trình với môi trường xung quanh, với thiên nhiên cảnh quan. Trong kiến trúc chùa truyền thống không có các công trình kiến trúc đồ sộ. Các công trình có kích thước tương đối lớn cũng gắn bó hoà hợp với thiên nhiên và con người, không có tác động thống trị và áp đặt lên thiên nhiên và con người.

2.4.  Về cấu trúc mặt bằng: hầu hết các hạng mục công trình Chùa đều tổ hợp từ hình chữ nhật với các gian lẻ. Các tỷ lệ giữa thành phần kết cấu nhà với nhau bao giờ cũng có một sự tương quan kích thước nhất định mang đến sự hài hoà. Về không gian chùa được xây dựng bằng vật liệu gỗ chủ yếu được quyết định bởi các bộ vì. Bộ vì được hình thành bởi 6 cây cột (2 cột cái, 2 cột quân và 2 cột hiên) hoặc 4 cây cột ( 2 cột cái và 2 cột quân). Vì kèo có tỷ lệ đứng / ngang = 2/3 tạo thành độ dốc i = 66,6 %.

2.5.  Nguyên tắc liên hệ và phân cách: Sự liên hệ và phân cách thể hiện qua các bộ phận, các thành phần kiến trúc khác nhau và rõ nhất là yếu tố hình khối thiên nhiên và kiến trúc công trình tương đối độc lập nhưng nhờ không gian mở của hàng hiên, của các dãy nhà hành lang, làm yếu tố chuyển tiếp đã khiến không gian vườn như ăn sâu vào công trình. Sự liên hệ ở đây còn được thể hiện bởi các dãy hành lang kết nối các hạng mục công trình chính để đảm bảo cho một liên kết chặt chẽ về không gian và thích dụng.

2.6.  Yêu cầu về nhân chủng học và nhu cầu hoạt động của con người kết hợp với đặc tính của gỗ, quy mô không gian do kết cấu gỗ tạo nên... đã đạt được tính tỷ lệ về con người và kiến trúc. Một số chùa không có khả năng sử dụng gỗ có thể thay thế bằng kết cấu bê tông cốt thép. Cho dù dùng loại vật liệu gì chăng nữa Tỷ lệ không gian của công trình cần phải đáp ứng và tuân thủ để đạt được sự gần gũi và gắn bó với hoạt động của con người. 

3.     Vật liệu xây dựng chùa

Hiện nay được sử dụng là các chủng loại phù hợp với môi trường khí hậu tại địa phương, từ tre, tranh, gạch ngói, bê tông, đá, gỗ, Các công trình truyền thống thường sử dụng vật liệu gỗ ( thường gặp gỗ lim, gỗ đinh, gụ, táu... cho hệ thống kết cấu khung cột, hệ thống cửa, rui hoành... Ðá thường được sử dụng là đá nguyên khối từ đá ong, đá sa thạch, đá xanh... sử dụng trong nền, bậc cấp, chân tảng. … 

Vật liệu đất nung được sử dụng và chế tác thành các sản phẩm đáp ứng các mục đích sử dụng khác nhau. Ví dụ, mái các công trình lợp ngói lòng máng như âm dương, ngói ống ... và mái lợp ngói bản như ngói mũi hài, vẩy rồng, vẩy hến, ngói di, ngói liệt là dạng mái nhiều lớp, dưới cùng là lớp ngói lót, trên là các lớp ngói chính được xen chồng lên nhau để che mưa nắng. Tường tại các công trình chùa thường là tường gạch nung, gạch  hỗn hợp vôi đất, xi măng, đá ong. Gạch bát được sử dụng để lát nền sân, hiên... Gạch trang trí phủ ngoài mặt tường, tháp, gạch nung sành để làm tháp mộ, gạch xây cột vuông...

Ðối với kết cấu bê tông bắt đầu thấy xuất hiện từ cuối nhà Nguyễn thời kỳ thuộc Pháp, điển hình là cụm di tích Hưng Ký và trang trí trên mặt đứng hay trên kết cấu đều được làm bằng sứ, gỗ và ghép liền với mặt bê tông của kết cấu. Giải pháp sử dụng bê tông cốt thép sẽ tạo ra quy mô chùa lớn với khả năng vượt khẩu độ không giới hạn tạo ra các không gian đủ lớn đáp ứng nhu cầu hoằng pháp cho rất đông người trong cùng một thời điểm. 

Ngoài người Kinh, một số dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam cũng có chùa. Chùa người Mường làm bằng tre đơn giản. Chùa người Khơme được xây dựng đẹp, có bộ mái biểu hiện ảnh hưởng Campuchia và Thái Lan. Chùa người Hoa thường tạo hình với chất liệu tô vẽ mang sắc thái kiến trúc riêng. Thông thường thì vật liệu xây dựng chùa là các vật liệu tốt nhất có thể được.

          Giờ đây với sự phát triển đa dạng của công nghệ vật liệu xây dựng mới, việc tu bổ cải tạo, mở rộng chùa cũng như xây dựng mới ảnh hưởng bởi chất liệu xây dựng tiên tiến nên chùa Việt Nam có thêm nhiều giải pháp xử lý về mặt kết cấu cũng như bề mặt hoàn thiện. Tổng hợp các yếu tố mới này đã tạo ra tính đa dạng của kiến trúc chùa Việt Nam đương đại. 

4.     Kỹ thuật xây dựng.

Yêu cầu về Ðộ bền vững là một đặc trưng chính của các công trình kiến trúc Chùa. Bí quyết làm cho các kiến trúc gỗ bền vững, bên cạnh việc chọn vật liệu (gỗ to, gỗ tốt, đá cứng hay gạch nung già). Trong kiến trúc gỗ nhân tố cơ bản chống đỡ kiến trúc là các bộ vì. Bộ vì được hình thành bởi các cây cột, hệ thống liên kết cột và là sự kết hợp hài hoà hai yếu tố là lòng nhà và độ chảy của mái nhà. Sau đó, người ta nối các vì với nhau bằng hệ thống xà ăn mộng qua các cột. Lực ép và sức nặng của toàn bộ mái nhà dồn xuống các đầu cột. Các câu đầu, xà nách, kẻ, bẩy, các đầu dư, đầu nghé hợp lý cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ cân bằng và gánh đỡ kiến trúc của bộ vì. 

Ngày nay việc kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống với sự tính toán hợp lý của công nghệ máy tính hiện đại về cả hình học, vật lý, cả về mỹ thuật và kỹ thuật thi công xây dựng. Ðó là giá trị về tính toán cho kiến trúc chùa luôn nằm trong thế cân bằng và ổn định.

5.     Màu sắc trong kiến trúc Phật Giáo

Màu sắc của chùa dùng màu tự nhiên của vật liệu xây dựng, màu nâu đỏ của mái ngói, màu nâu của kết cấu bộ vì, vách gỗ, màu xám nhạt của chân tảng, của bậc thềm đá... Màu vôi trắng của tường đầu hồi hoặc màu tự nhiên của các hàng gạch xây tường miết mạch không trát. Các hoạ tiết đôi lúc được trang trí bằng màu, màu xám nhạt của bờ nóc, bờ dải, bờ guột và đầu đao góc mái. Một số dạng màu thường được sử dụng trong các công trình để tạo nên sự tương phản về độ sáng. Ví dụ như gam màu trắng của tường quét vôi là sáng trong khi gam nâu sậm của gỗ là tối, hoặc gam đỏ sậm của gạch trần là tối nổi lên khoảng trắng của cửa sổ là các hình chữ Vạn hoặc biểu tượng sắc - không đắp vữa...

Ngoài màu tự nhiên của vật liệu, một số công trình còn sử dụng màu vàng và đỏ của đồ gỗ sơn son thếp vàng. Các gam màu vàng đỏ có thể bắt gặp ở bất kỳ một công trình chùa nào trong các đồ thờ, tượng, hoành phi... Màu vàng son với ánh sáng đèn, nến, hương khói mờ ảo tạo nên một không gian linh thiêng hơn, vừa thực lại vừa hư, thể hiện triết lý vô vi của nhà Phật.

Một số chùa việt qua giao lưu văn hóa học tập các nước bạn, do đó có thể nhận thấy màu sắc khác nhau trong một số công trình. Cột phủ sơn mài thếp vàng và vẽ hình mây, rồng cuốn với hai màu vàng đỏ là chủ đạo, vẽ bột màu trên các hoa văn trang trí với màu sắc sặc sỡ ...

Chùa truyền thống ba miền Việt Nam có một nét chung là ánh sáng trong chùa rất ít, chủ yếu là sử dụng ánh sáng khúc xạ và phản quang thông qua các bộ phận như cửa sổ, cổ diêm hoặc thiên tỉnh và ánh sáng nhân tạo là đèn, nến... Ðiều này là kết quả của việc quan niệm nơi thờ Phật thì phải linh thiêng, huyền bí, trang nghiêm, kiến trúc như vậy phải u trầm tĩnh mịch tạo một tâm lý tôn kính cho con người bước chân vào nơi cửa Phật.

6.     Trang trí, điêu khắc công trình.

Bố cục trong một tác phẩm điêu khắc là thước đo lớn nhất cho sự thành công của tác phẩm. Trong kiến trúc cổ, ta thường gặp bố cục theo kiểu cân xứng ( những cặp rồng, những hoa văn hoạ tiết đối nhau...). Bố cục hướng tâm ( có hoa văn trung tâm trong một khung khép kín), bố cục hình dải gọi là hồi văn ( hoa cúc, dây hình chữ vạn, pháp khí...)

Kiến trúc chùa sử dụng điêu khắc và hội họa từ các hoa văn, đề tài trang trí mang đậm ý nghĩa tượng trưng góp phần vào việc giác ngộ chúng sinh bởi các điển tích được nói đến trong kinh Phật, như là một yếu tố phụ trợ tăng tính nghệ thuật đồng thời diễn đạt ý nghĩa biểu trưng, mang đậm triết lý nhà Phật.  

Tạm kết:

Trên đây chúng tôi mô tả mang tính khái quát các vấn đề cốt lõi của Quá trình thiết kế xây dựng và tu bổ Chùa. Căn cứ vào hiện trạng cũng như nhu cầu ngắn hạn và dài hạn, trước khi bắt tay vào triển khai phải cân nhắc cẩn trọng trong việc quy hoạch định hướng tổng thể. Việc làm thiết thực này sẽ tránh được sự lãng phí không cần thiết. 

Theo dõi bước đi của ngôi chùa Việt Nam qua suốt chiều dài lịch sử, chúng tôi thấy rõ ở mỗi thời kỳ, các ngôi chùa, ngọn tháp đếu có một kiểu dáng riêng biệt. Bao giờ cái truyền thống cũng gắn với cái hiện đại, việc tiếp thu các kiểu kiến trúc của các chùa tháp trên thế giới cũng như các giải pháp sáng tạo có được bắt nguồn từ công nghệ vật liệu và công nghệ xây dựng mới cần phải chú ý để không làm mất đi bản sắc dân tộc. (“Những nguyên tắc cơ bản trong kiến thiết chùa Việt (ThS.KTS Quảng Kiến ...”) Cái bản sắc dân tộc ở đây phải được nhìn nhận là sự phù hợp với con người và tư duy thời đại mới ở sự cảm nhận về mỹ thuật, về kiến trúc kết hợp với nhu cầu sử dụng. Đây là bài toán khó, nhưng ông cha ta đã làm được. Âu cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ trong hiện tại.