Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Ngộ Không


" HỖN MANG MỚI MỞ VỐN KHÔNG HỌ
PHÁ HẾT MỊT MỜ PHẢI NGỘ KHÔNG " 

      Tôn Ngộ Không là cái tên của Mỹ Hầu Vương, sau khi bái sư được Bồ Đề Tổ sư đặt cho. Ngộ Không là hai chữ được lấy từ bài kệ " Hỗn mang mới mở vốn không họ, Phá hết mịt mờ phải ngộ không".
Câu chuyện Tây Du Ký viết về chặng đường thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng, nói về ý thì chính là con đường tu hành để thông tỏ được vạn pháp của một hành giả, năm thầy trò Đường tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát giới, Sa Ngộ Tĩnh, Bạch Long Mã, tính cách của năm người này chính là tính cách chung của chúng sinh. Tương ứng với tám tâm thức của chúng ta; Đường tăng = A lại da thức, Tôn Ngộ Không = Ý thức, Trư Bát giới = tiền ngũ thức ( nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức). Nay đi sâu phân tích ý tứ của câu thơ như sau:
1. Về câu " hỗn mang mới mở vốn không họ"
Ý là nói về cái vô thuỷ vô chung của vạn pháp " không họ"
Tứ nói về bốn cái không ( bất )
- Bất-khứ là không từ đâu đến,
- Bất- lai là không đi về đâu
- Bất sinh là không do cái gì sinh ra
- Bất diệt là không có gì tiêu diệt được.
2. Về câu " Phá hết mịt mờ phải ngộ không"
Ý: nói về việc muốn phá huyễn hư phải ngộ được tính-không.
Tứ:
- bản tâm thanh tịnh từ vô thuỷ bị vô minh làm cho mê muội " mịt mờ"
- để thoát khỏi cái khổ luân hồi cần phải nhận diện và "phá" bỏ cái vô minh là đầu mối của lục đạo, phá được vô minh thì phá được vòng thập nhị nhân duyên rời sinh lão bệnh tử. Hết cái ái, thủ, hữu...
- phá "mịt mờ" mê tối thì phải ngộ không. Không là tỏ rõ được lý duyên khởi. Do cái này khởi ra cái kia, rồi lại tác động lẫn nhau. Pháp giới ( vạn vât, vạn sự) là trùng trùng duyên khởi như thế, nên trong cái một có cái tất cả, trong cái tất cả có cái một. Cho nên ngộ không là phá đi sự đối đãi của Câu-Không là chấp ngã tướng và chấp pháp tướng.
- Ngộ Không ở đây nói đủ phải là ngộ được Tính Chân không. Chân không là thể chất chân thật vô hình tướng, bất sinh bất diệt của chúng hữu tình pháp giới và vô tình pháp giới. Tính bất sinh bất diệt này của hữu tình và vô tình là giống nhau nên là Như, và không phải hai thứ khác nhau nên là Nhất. Tính Nhất Như kết hợp với hình tướng chân thật của chúng sinh thì gọi là Chân Như. Do đó ngộ Không là thể nhập được với toàn thể toàn dụng của pháp giới tính tức là ngộ được bản thể Chân như.

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Tam Quán: Không - Giả - Trung

TAM QUAN, TAM QUÁN
---------------------------------
Tam quan ba cửa,
Không ngoài, không trong
Có Không, Có Giả là Trung đạo
Nhất tâm tam quán thượng thừa thiền
Không đây : là chẳng não phiền
Giả là : Tâm quán thoát miền vô minh
Trung này : Không chấp nhị nguyên
Xa rời đối đãi : chu viên đạo huyền.


       
       Đức Phật nói với Đại bồ tát Uy đức tự tại : Viên giác là tính vô thượng rộng lớn. Là bản tính của chư Phật chúng sinh cũng có bản tính này cho nên bình đẳng với chư Phật, đây là thể tính bình đẳng.Nhưng vì từ vô thủy đến nay chúng sinh bỏ quên bản tính này cho nên về thể tướng dụng thì hóa thành thấp kém. Vậy muốn được bình đẳng như chư Phật thì phải tu Bồ tát hạnh. Đây là tu ba pháp môn chính quán Đại thừa.Thứ nhất là Không quán ( Chỉ = Sa ma tha), hai là Giả Quán ( Vi pa sa na), ba là Trung đạo chính quán ( Đi pa na).
- Chỉ là thanh tịnh tâm trừ hết vọng niệm ngã pháp chấp tướng sẽ sinh ra trí tuệ giác ngộ như gương lau hết bụi bám sẽ trở lại bản tính trong sáng đã có.- Quán là từ bản tính trong sáng đã có phải thị hiện hạnh từ bi cứu độ chúng sinh. Muốn thế phải quán năng quán là ta sở quán là hạnh từ bi của ta để cứu chúng sinh đều là như huyễn. Giống như đại địa thì phải làm cho lớn lúa và các lạo cây ăn quả khác.- Trung đạo chính quán là: Chỉ và quán là hai phải quán cả hai này đều là huyễn hóa. Đó gọi là tịch chiếu song hành = công đức và trí tuệ đều viên mãn. Ví như đánh một tiếng chuông thì âm thanh lúc bắt đầu chỉ có một tiếng nhưng sẽ lan tỏa ra nhiều phương hướng xung quanh. Ngã chấp của chúng sinh chính là bốn tướng: Ngã, Nhân, Chúng sinh, thọ giả. Pháp chấp của tiểu thừa trung thừa chính là chấp có hai tướng pháp và phi pháp tướng. Phải trừ hai tướng này thì là viên mãn ba phép quán đại thừa Viên mãn ba phép quán này là sẽ thể nhập đại viên giác của chư Phật.
( Đại phương quảng Viên giác liễu nghĩa khế kinh )

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

Mẹ Bát Nhã

Mẹ
----
Mẹ từ tự tính sinh ra
Nuôi con khôn lớn, dạy xa não phiền
Nơi võng ru, tới mọi miền
Nương nhân duyên khởi, tu thiền quán Không.
Mẹ là gọi nước lành trong
Xoá tan hư huyễn, thong dong đi về
Mười phương cũng một miền quê
Làm duyên khai ngộ, giác mê cho người
Mẹ là một đoá hoa tươi
Điểm tô chân lý ở nơi hồng trần
Vì chúng sinh hiển pháp thân
Từ Bi hỷ xả thập phần viên thông.
Vạn kiếp Mẹ vẫn dõi trông
Giúp đàn con sớm thoát vòng tử sinh
Người là Bát Nhã Tâm Kinh
Dìu con từng bước tiến trình khai Tâm.
-------
          Nhân tháng Vu Lan, người người tưởng nhớ công ơn của cha mẹ sinh thời cũng như cha mẹ ở các đời quá khứ. Công ơn cha mẹ thật cao lớn như núi, rộng như bể cả. Theo nhân duyên, mỗi người cha người mẹ đều lo lắng cho con cái suốt cả cuộc đời nhưng với người con hư và bất hiếu thì tình cảm bố mẹ thế gian có khi giảm đi ít nhiều bởi tập khí phiền não của phàm nhân. Trong khi đó chư Phật chư Đại Bồ Tát luôn dõi theo sát chúng sinh đời đời kiếp kiếp với tâm từ bi không khi nào vơi, không bao giờ lui sụt dù chúng sinh có lên thiên giới hay xuống địa ngục. Nói thế mới biết ơn chư Phật Bồ tát thật là vô lượng vô biên. Chúng ta đối với cha mẹ phải có tâm như đối với chư Phật vì cha mẹ cũng là chúng sinh sẽ thành Phật ở đời vị lai, có người nói Cha Mẹ ở nhà là Phật là chưa thật rốt ráo, nói: Cha Mẹ là Phật tương lai và tâm chúng ta những người con đối với cha mẹ hiện thời phải là tâm đối với Phật mới đúng. Tâm đó là tâm hạnh, tâm hiếu kính, quy ngưỡng.
Nhân ngày Vu Lan Quảng Kiến viết bài thơ Mẹ và mấy câu về lý chia sẻ với chư đạo hữu, nguyện cùng đồng sự đến thời vị lai đồng đắc chính đẳng chính giác. Đây mới là tâm Đại hiếu của người con đối với Cha Mẹ, đối với Phật.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Vô trụ xứ


Thôi dừng lại những cuộc chơi
Thân tâm Vô-trụ thảnh thơi Ta Bà.


    Vô trụ xứ là cứ điểm hành đạo của Bồ Tát. Luận Tỳ-Bà-Sa có nói đến hạng người thông minh là người có định hướng cho chuỗi đời sống vô tận của mình. Định hướng đó sẽ đưa đến hạnh phúc chân thật. Bồ tát hành đạo trên tinh thần Vô trụ xứ chính là tiến trình Phát Bồ-đề tâm, hành Bồ tát đạo, tu Bồ tát hành và thành Bồ- Đề-Quả.
    Hạnh phúc chân thật của người thông minh mà luận Tỳ bà sa nói đó là cảnh giới Niết-Bàn tịch diệt, hết huyễn hư khổ não của quả vị Vô thượng Bồ Đề. Vô trụ xứ nói: không trụ sinh tử, không trụ Niết Bàn, tinh thần Vô trụ xứ này ứng dụng trong đời sống hiện tại chính là tinh thần khai phóng, không bị buộc chặt vào bất cứ giá trị truyền thông nào. Tuổi trẻ chúng ta cần được học hỏi để sống với tinh thần bao dung, để tự mình định giá chuẩn xác giá trị các nền văn minh nhân loại, tự mình chọn hướng đi thích hợp trong dòng phát triển hài hoà của tất cả các nền văn minh nhân loại, tuy khác biệt tín ngưỡng, khác biệt tập quán tư duy, khác biệt cả phong thái sinh sinh thường nhật.
   Sự phát triển trình độ nhận thức tâm linh ở đây chúng ta nói đến là sự học tập thông qua kinh điển truyền thống. Kho tàng Tam tạng thánh điển là thế giới kiến thức bao la. Chúng ta dựa trên những lời dạy căn bản của đức Phật về giá trị của sự sống, bản chất của đau khổ và hạnh phúc. 
   Việc kết hợp các khái niệm của thời đại mới với tinh thần Vô trụ xứ sẽ định hướng cho chúng ta con đường tươi sáng dẫn đến tiếp cận và sống thực với bản chất của tồn tại, và tất nhiên hạnh phúc chân thật sẽ tìm đến với ai đang đi và sẽ đi trên con đường hướng tới Bồ đề quả.


Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

Thơ gửi Thầy


Amitabaha!
Kính bạch Thầy!
         Đệ tử Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng về Trường Hạ vào ngày Bồ tát thành đạo, được diện kiến vấn an Thầy. Con vui lắm vì Thầy rất hoan hỷ, pháp thể người vẫn được khinh an. Hôm nay con xem lại đĩa DVD " Sáng mãi một vầng trăng" gặp lại hình ảnh Thầy năm xưa, hình ảnh Thầy gầy gò cổ kính làm cho đệ tử thấy chạnh lòng thoáng trong tâm. Con định gọi điện thoại tới Thầy nhưng không được, con vào email viết mấy dòng, gửi Thầy: nguỵên cầu Tam Bảo gia hộ Thầy để cho mọi sự Thầy đều được như sở nguyện. 
        Đệ tử từ khi được Thầy từ bi hóa độ, giác ngộ Phật đạo, thật là ơn đức vô lượng. Cuộc đời con gần như thay đổi kể từ chuyến thị giả Thầy đi Ấn độ, nhờ ơn giáo hóa của Tam bảo con nhìn mọi việc được thấu đáo hơn, không sợ người ta nghĩ gì mà chỉ sợ mình không tinh tiến mà thôi, hàng ngày con đều dành thời gian hành trì pháp môn Đại Bi theo bộ nghi quỹ tu trì mật giáo mà thầy đã bố thí. Thời gian khoảng 1giờ 30 phút sau khi hành trì con thường ngồi tĩnh tọa để suy tư về các vấn đề của Đạo Phật. Cứ như thế mỗi ngày thân tâm con đều được an lạc, chống lại được các phiền não của cuộc sống. Con nhận thức được rằng, có nhân thì ắt có quả, mọi việc đều có nhân duyên, con đường làm kinh tế của con bây giờ khác ngày xưa, con tránh sự ăn nhậu và các quan hệ làm tục, ăn tục. 
           Một hôm con ngồi thiền quán với câu hỏi tại sao Chư Phật lại không độ trì cho mình khi đang gặp khó khăn?. Con mới nhận ra rằng chư Phật Bồ tát chỉ trợ duyên cho chúng sinh khi sự việc phù hợp với con đường tu chứng. Đệ tử thật vui mừng vì nhận ra thành Phật là cả con đường chứ không phải là thời điểm thị hiện. Giờ đây đệ tử cố gắng sống và quán niệm theo lời dạy của Thầy. " Tự tính kỳ Tâm", theo duyên mà không đổi, không đổi mà theo duyên. Mọi sự dù huyễn hư thế nào thì tính của phiền não đó cũng là tính của Bồ đề.  
             Mỗi độ gần Thầy đệ tử cảm thấy trong ánh nhìn và lời nói của Thầy với đệ tử đầy lòng từ bi, đó là sự khuyến tấn khích lệ lớn vô cùng. Con biết Tín càng lớn thì Giải càng chóng, một lúc nào đó đủ nhân duyên Thầy từ bi chỉ Giáo con sẽ tinh tiến Giải-thông để khỏi phụ lòng Thầy. Đệ tử biết làm học trò mà không tinh tiến để trả công ơn giáo hóa mới là người trò không trọng Thầy mình. Đúng như Thầy đã dạy, nói nhiều không bằng làm nhiều. Con đường giác ngộ là con đường trở về với tâm nguyên của mình, xóa bỏ được vô minh thì tâm mình đồng với tâm Phật. Con cũng không phải hay làm thơ để tiêu khiển hay giết thời gian mà là để quán niệm cảnh hiện tiền với giáo lý mà mình học được, kịp ghi lại ngắn gọn theo thể thơ để nhớ không quên. Lại cũng không tự hào vì mình viết được nhiều thơ bởi con biết cỗi gốc của Tưởng-ấm là sự nhớ-quên, bỏ mọi vấn vương thì mới xa rời được Thức-ấm. 
              Thời gian vừa qua và thời gian tới đây Đệ tử ở nơi xa không có nhiều thời gian được thị giả Thầy, lúc gần thì lại chưa có dịp bạch Thầy nên con viết email có hơi dài. Nay con viết mấy bài thơ ngắn mong Thầy tỏ tâm hướng xuất thế gian của con, kính Thầy đọc và giáo huấn thêm cho. 
               Cuối thư con nguyện Thầy có đủ thuận duyên, thành công trong nhiều chương trình có tính lan tỏa lớn để giáo hóa chúng sinh. Phát huy Đại Hạnh, Đại Trí, Đại phương tiện của chư Phật.
Amitabha!
----------------------------------------------------------------------------
Con đường giác ngộ là con đường trở về với tâm nguyên của mình, 
xóa bỏ được vọng tưởng vô minh thì tâm mình đồng với tâm Phật.

CON đã biết dòng đời huyễn mộng
ĐƯỜNG tu hành tỏ sắc là không
GIÁC : tâm mình vẫn đồng tâm Phật
NGỘ: vạn vật hóa từ Chân Không.

CON đã biết vạn sự khởi duyên
ĐƯỜNG chông gai có Bát nhã thuyền
GIÁC tâm mình vẫn đồng tâm Phật
NGỘ rồi vạn vật tự uyên nguyên.

CON hiểu rằng không tu mãi khổ
ĐƯỜNG tu chứng có đâu nơi chỗ
GIÁC tâm mình vẫn đồng tâm Phật
NGỘ pháp tính chẳng tế chẳng thô.

CON vẫn biết Văn rồi phải Tư
ĐƯỜNG Tu hành để bỏ huyễn-hư
GIÁC tâm mình vẫn đồng tâm Phật
NGỘ lý rồi thấy sự Như Như.

CON vẫn biết tu sẽ có phần
ĐƯỜNG đời nên sống không "hoa-cân"
GIÁC tâm mình vẫn đồng tâm Phật
NGỘ pháp rồi "hành" được Pháp-thân.
---
"hoa-cân": hoa sáng nở tối tàn, cân đong đo đếm.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Vấn đề giảng pháp và Tứ Khế


     Bạn là người hiểu về Phật Pháp, bạn rất muốn được chia sẻ và nếu có một cơ hội duy nhất, giảng Pháp cho một người duy nhất, bạn chọn ai trong 5 người sau đây để giảng pháp?
1. Sinh viên2. 
Người buôn động vật
3. Tên tội phạm giết người
4. Quan chức
5. Giáo viên
-------------

Trả lời:
      Nếu nói về hiểu Phật pháp thì điều đầu tiên là phải rời sự-phân-biệt, tránh cái tranh đua về hơn-thua giống-khác ở cái Lý, vì lý bàn nhiều mà không có hành động thành ra hý-luận. Đạo Phật vốn trọng cái Hạnh hơn cái Trí. Cho nên việc chia sẻ Phật pháp cốt ở hiệu quả, không phải là giảng cho có , về việc giảng để lấy danh lấy vọng lấy điểm, xưa chư Tổ đã từng nói:

" khóc dù đến chảy máu ra,
chi bằng ngậm miệng cho qua một đời ".

      Lại nữa, Hành đạo cốt ở hai chữ " Tuỳ Duyên ", duyên đây là điều kiện thuận lợi nhất. Thế nào là thuận, Phật dạy rằng, thuyết pháp phải có tứ khế: căn cứ vào hiểu biết hiện tại của người mà nói những điều lợi ích gọi là Khế-Cơ, khế-lý là nói những điều phù hợp với vướng mắc của người, giúp người có cái chính-duyên để tự giải thoát các nỗi khổ niềm đau, tuỳ vào địa điểm mà thuyết pháp, tránh vừa ăn thịt uống rượu vừa nói pháp gọi là Khế-địa; cuối cùng là khế-thời, tuỳ theo cơ hội mà thuyết pháp độ sinh, như khi người khác tin tưởng mình thì nhân cái niềm tin đó mà ta chia sẻ chân lý, ngược lại khi không có được sự tin tưởng của người thì thật là chưa đến thời điểm để thuyết pháp, trường hợp này ta nên sống trong chính niệm, hành các việc tự lợi, lợi tha mà cảm hoá người thì cũng là sự thuyết pháp thiện xảo. Thiếu, yếu và ngoài một trong tứ-khế nêu trên thì chọn ai để thuyết pháp cũng là sai, 

...mà sai cũng là đúng. Đúng ở chỗ, pháp Phật vốn vi diệu, trong nhiều khế kinh Phật thuyết có những chúng sinh dù hàng vạn kiếp ở địa ngục, nhưng vì nhân duyên ở thời quá khứ có một lần từng nghe đến danh hiệu Phật hay đã từng nghe một câu một điều về Chân lý mà hoát nhiên tỉnh ngộ để "buông đao rồi thấy bến bờ giác ngộ". Đây cũng chính là cốt yếu để chúng ta hằng ngày năng tu Pháp niệm Phật và thực hành những việc thiện lành làm cho chủng tử thuần thiện đó được huân tập vào tàng thức, giúp mình, giúp người, rồi khi nào đó sẽ tự giác ngộ được Chân lý, diệt trừ hết vọng niệm thì vào được đạo Vô thượng.

Nói thêm: 
      Đối với chúng sinh ở lục đạo luân hồi, khi còn có tướng thì bị giới hạn bởi không gian, có mệnh nên bị giới hạn bởi thời gian, nghĩa là đời sống có hạn lượng, nhân duyên làm người được là khó, đời sau chắc gì đã sinh lại làm người, như kẻ-giết-người chắc chắn bị pháp luật tử hình, vì cái nhân đời này mà không biết đến đời nào mới lại thành người được, cho nên giúp những hạng người này biết về pháp Phật để sám hối nghiệp chướng và gieo duyên Phật pháp thì quý lắm thay. Cũng như pháp phóng sinh vậy, khi đã phát tâm Bồ đề thì thường hành hạnh từ bi hỷ xả, giúp đỡ các vật cần thiết nhất cho người là bố thí, cứu người cứu loài sắp mất mạng là phóng sinh; cụ thể như vào chợ thì nên cứu ngay những con vật sắp chết như ốc, cá ( vì các loài này khi bị bắt sau một ngày nếu không được phóng sinh thì sẽ chết cả và chết số lượng lớn )... Đó là nói về các sự gần xa theo chính lý.

      Nếu là người biết và hiểu về Phật pháp cơ bản thì sẽ thấy được vạn hữu đều là pháp tương đối, đều là không, đều là bất nhị. Vì tương đối cho nên các lựa chọn sẽ đúng theo từng quan niệm, vì là Không nên bản thể bình đẳng không có phân ra danh tự khác nhau, vì là Bất-nhị nên bạn cũng là tôi, sinh viên, giáo viên, kẻ buôn động vật hay kẻ giết người là như nhau ở tính tương tức. Tương tức là dựa vào nhau mà có, nghĩa là cái danh giáo viên có được khi có cái danh là học sinh sinh viên. Kẻ buôn động vật để giết thịt là không có nếu như sinh viên, quan lại, giáo viên... không có ăn thịt...

      Hiểu như vậy, biết như thế nên trong cuộc sống đừng nên để mình phải vướng mắc vào điều kiện gì dù đó chỉ là cuộc chơi, câu hỏi vui,... Một niệm cũng là một pháp, một chủng tử xấu nếu nó là cái nhân đưa đến sự so đo về thắng thua, giống-khác, hơn kém...; tất cả những so đo đó sẽ bắt đầu cho các nỗi khổ niềm đau mới mà thôi.

Nếu như phải trả lời cho câu hỏi này, xin đề lại câu thơ của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ là thầy của ngài Sơ tổ Trúc Lâm, xem ra có lợi ích hơn vậy:
" đang yên tự chuốc nguy
Nếu không leo cây nữa
Trăng gió làm được chi! "

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Thức Mạt na


Mạn đàm:

MẠT-NA THỨC - BÌNH ĐẲNG TÍNH TRÍ
-----------------------------------------------
( Nam mô Bình đẳng tính trí, Nam phương tự tính luân thân Bảo Sinh Như Lai, chính pháp luân thân Hư Không tạng Bồ Tát, Giáo lệnh luân thân Quân đồ lợi Minh vương. )

Khởi luận:
      Duyên có nhiều, nhân kỷ niệm ngày thành đạo của Bồ tát Quán Thế Âm, bậc đại Bi có nhân duyên cơ cảm nhất với chúng sinh ở cõi Ta Bà. Bồ tát thành tựu Đại Bi cũng đồng thời có được Đại Trí, bởi Bi và Trí là hai diệu dụng của Chân Tâm.

       Chúng tôi những doanh nhân Phật tử làm kinh tế, để tổ chức doanh nghiệp, lựa chọn chiến lược kinh doanh, để đàm phán với đối tác...tất đều phải dùng đến trí cả. Như trên, nếu trí tuệ chân chính thì đồng thời cũng sẽ làm việc đúng với hạnh từ Bi của Bồ tát. Việc có cơ hội cùng "đồng-sự", chúng tôi thường trao đổi về Phật học, đó như là một nhiệm vụ song song với quá trình phát triển doanh nghiệp tại các quốc gia, với hoạt động đa ngành nghề mỗi thành viên đều có nhân duyên tiếp xúc nhiều hạng người tại các nền văn hoá khác nhau, có tôn giáo khác nhau; Chúng tôi những người con Phật nương theo sự giáo hoá của chư Phật Bồ tát mà thực tập hành hạnh tự lợi lợi tha, nghĩa là với doanh nhân thì kinh doanh theo thiện nghiệp, nghĩa là làm những việc gì mà có lợi cho mình, có lợi cho người và có lợi cho xã hội.Tuỳ theo con đường tu chứng phù hợp mà có người tu thiên về hạnh từ Bi, có người tu thiên về Trí. Nói về tu thì có đốn-tu và tiệm-tu, Trong pháp giới chúng sinh có người tu rồi mới ngộ gọi là tuỳ-tín-hành, có người ngộ rồi mới tu gọi là tuỳ-pháp-hành.Buổi mạn đàm về Phật học hôm nay, nhân rõ được cốt lõi của bi Tâm có liên hệ xuất phát từ tính Bình-đẳng mà chúng tôi chia sẻ về nhân quả và bản chất hiện hành của trí- bình- đẳng. Bình đẳng tính trí này là một trong ngũ trí của Phật, gồm: Đại-viên- kính- trí, Thành- sở-tác- trí, Diệu- quán- sát- trí, Bình-đẳng- tính- trí và Pháp- giới- thể- tính- trí.
        Dẫn nhập:
      Kinh Đại Nhật có câu “ Tâm Bồ đề là nhân, Đại bi là căn bản, phương tiện là cứu kính”. Nhân thấy sự thống khổ mà động lòng thương xót, nhân động lòng thương xót mà phát tâm thực hiện các việc tự lợi, lợi tha; nhân làm việc tự lợi lợi tha mà trí tuệ được sáng suốt, nguyện lực được rộng lớn lần chứng được đức đại bi của các vị Bồ tát.Bồ tát thường hành hạnh ban vui, cứu khổ. Hạnh Từ Bi là bản tính chân thật của Bồ Đề. Cái vui, cái khổ thế tục chỉ là sự đối đãi vô thường. Câu “ phiền não tức Bồ đề”, ý là tính của phiền não cũng là tính của Bồ Đề. Chúng ta tu theo chính Duyên là hành theo các pháp môn của chư Phật để giác ngộ, tiến tới nhập một với pháp giới tính, nghĩa là trên đồng với chư Phật đồng một từ-lực, dưới đồng với chúng sinh đồng một bi-ngưỡng. Chữ “đồng” ở đây là Bình-Đẳng. Bình đẳng nghĩa là Không-Hai, nghĩa là cái tâm vô-phân-biệt, xa rời các pháp đối đãi.Như vậy bản tính cần thiết của doanh nhân Phật tử chính là thực hiện các việc kinh doanh trên nền tảng của sự bình-đẳng.Để hiểu về bình đẳng tính có nhiều, giới hạn ở bài viết này chúng tôi ghi lại vắt tắt buổi nói chuyện, nội dung chỉ nói về bản chất và hoạt động của thức thứ bảy là Mạt-na-thức, đây chính là cái thức quyết định các hành động của chúng ta có bình đẳng hay không.Mạt-na thức là thức thứ bảy trong trong Bát thức, gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức và A lại da thức.Thức là hay biết, là cái luồng tâm niệm có nơi mỗi chúng sinh, cái tâm-niệm sinh rồi diệt, diệt rồi sinh tiếp tục mãi như một dòng nước, chứ không đứng yên môt chỗ, nên thực tế, thức tâm là một luồng tâm niệm tiếp tục không gián đoạn.Xét nơi tâm niệm hiện tiền của chúng ta thì thấy có nhiều bộ phận hay biết khác nhau. Như năm thức trước ( nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ) chỉ thu nhận từng bộ phận cảm giác nơi hoàn cảnh, như nhãn thức chỉ thu được sắc, nhĩ thức chỉ thu được tiếng… mà thôi. Chẳng những thế năm thức trước chỉ thu được cái cảnh chung chung nơi hiện tại, chưa phân tích hoàn cảnh ra từng hình tướng cụ thể và cũng chưa phân biệt rạch ròi vật này với vật khác.Cái thức tóm thâu được tất cả các cảm giác và phân biệt được vật này khác với vật kia, là thức thứ sáu tức là Ý-thức. Chính vì thế nên khi ý-thức chăm chú một nơi khác, như nghĩ một bài toán khó, thì tuy vẫn có thấy, có nghe, nhưng lại không biết rõ và nghe cái gì.Ý thức là cái thức phân biệt rõ biết sự này vật khác, chỉ phát khởi trong lúc còn thức, lúc ngủ nghỉ thì ý thức không phát khởi. Vì thế người ngủ say hoàn toàn không biết chung quanh mình đã xảy ra những việc gì. Nhưng trong lúc ngủ người ta vẫn ngấm ngầm biết có mình nên đến khi có người gọi thì liền tỉnh dậy và chính trong lúc tỉnh dậy, cũng biết được là mình tỉnh dậy chứ không phải người khác. Cái thức luôn biết có mình, tiếp tục mãi mãi, cả trong lúc ngủ, là thức thứ 7, có tên gọi là Mạt-na-thức. Do Mạt-na-thức tiếp tục nhận có cái ta riêng của mình, nên mặc dầu trong một đời, thân thể và trí thức có nhiều sự thay đổi, mặc dầu có những lúc ngủ mê, có những lúc bất-tỉnh nhân-sự, không còn biết gì, người đời vẫn cảm thấy có cái ngã thể riêng biệt, tiếp tục từ trẻ đến già, hình như không có thay đổi.Song Mạt-na thức đã nhận có cái ngã thể riêng biệt thì nó nhận cái gì làm ngã thể. Nó không thể nhận năm thức trước hoặc ý-thức làm ngã thể liên tục được, vì các thức ấy đều phát khởi một cách gián đoạn, không phải liên tục. Cái mà Mạt-na-thức nhận là ngã thể liên tục đó phải là một cái thức liên tục; thức đó là thức thứ tám, tức là cái thức làm cho có sống, đi đến có cảm giác, có phân biệt.Thức thứ tám có cái tên chung là A-đà-na-thức. Do A-đà-na thức nắm giữ tất cả chủng tử của mọi sự vật nên cũng có tên là Nhất-thiết-chủng-thức. Nơi chúng sinh, A-đà-na lại thường xuyên nắm giữ cái tập khí chủng tử nhận có cái ta riêng biệt, đồng thời cũng thường xuyên bị Mạt-na-thức chấp nhận là cái ngã-thể liên tục nên lại có tên gọi là A-lại-da-thức, nghĩa là Tạng-thức, hoặc là Ngã-ái-chấp-tàng-thức.Chúng ta tu là để dứt trừ Ngã chấp tướng và Pháp chấp tướng. Ngã chấp là chấp cái thân cái tâm vô thường của ta là thật có, Pháp chấp là chấp cái thế giới quanh ta là thật có.Như trên đã nói, cái thức thứ bảy Mạt-Na thức chính là cái thức chấp ngã. Thức này chấp Kiến-phần của thức thứ 8 là Ngã. Thức thứ 8 chứa đựng các chủng tử, (thiện ác, vô ký) do các thức trước huân tập. Nhiệm vụ của Mạt na thức là làm cho các chủng tử của thức thứ 8 hiện hành ra. Có thể hiểu thức thứ 8 ( A lại da thức ) là cái kho chứa hạt giống, thức thứ bảy như người bảo vệ, có nhiệm vụ trông giữ và xuất kho các hạt giống để cho ông Ý thức và năm thức trước dựa vào đó mà gieo trồng ra quả. Hạt giống thiện thì hoá hiện ra cái quả là cảnh giới tốt đẹp, hạt giống xấu thì hiện cảnh nghịch duyên. Mọi so đo tốt xấu, mọi phân biệt xa gần, hơn kém…đều một tay Mạt-na thức thâu tóm và quyết định. Ý thức dựa vào Mạt-na thức làm căn để nhận biết, cũng như mắt là căn kết hợp với sắc mà thành nhãn thức vậy.Duy thức học nói rằng, Mạt-na thức kết đồng với một tâm sở biệt cảnh là Tuệ-tâm-sở, tức là cái tâm sở lựa chọn, nhận xét nơi cảnh. Chính cái tuệ-tâm-sở này đã làm cho thức-thứ-bảy mê lầm chấp có nhân-ngã và pháp-ngã, nhưng cũng nhờ có tuệ-tâm-sở mà thức thứ bảy diệt trừ được ngã-chấp và pháp-chấp, đi đến kết hợp với bình-đẳng-tính-trí.Đã làm ông bảo vệ nên thức thứ bảy luôn hoạt động, Đặc tính trông giữ là luôn luôn xem xét nghiền ngẫm (hiện hành) ngày đêm không lúc nào ngừng nghỉ, cụ thể thức thứ 7 luôn chấp có nhân-ngã và pháp-ngã thì đó là cái chỗ nương ô-nhiễm cho sáu thức trước. Do các loài hữu tình như chúng ta có cái thức ấy nên trong khi thức cũng như khi ngủ luôn luôn ở trong mê lầm và phải chịu các thứ sinh tử.Chỉ khi nào thức thứ 7 được hoàn toàn thanh tịnh thì chúng ta mới hoàn toàn giác ngộ và vào được đạo vô thượng.Nói thêm về sự liên hệ giữa thức Mạt na và sáu thức trước: tất cả bảy thức này đều gọi là chuyển-thức. Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật thuyết rằng: Bản lai tự tính vốn không có năng-sở, do bất giác vọng động lập ra có sở-tri mà tính minh của bản giác lại biết thành năng-tri, rồi khi năng sở đã lập, năng tri không thể vượt ra khỏi phạm vi của sở-tri nên nơi một thức tính lại chuyển thành nhiều thứ sai khác; đó là chuyển thức.
Nói về bất giác mà thành ra có năng có sở, Quảng Kiến tôi sau khi đọc Kinh Lăng Nghiêm có viết ra mấy câu như sau:
Bởi thấy Giác là Minh
Nên hình thành năng sở
Sáu căn cùng trăn trở
Ngăn ngại tự tâm mình.*
Chấp vọng ấy chúng sinh
Giác tâm mình tất ngộ
Vạn vật chẳng tế thô
Bồ đề thường tịch tĩnh.

      Thức thứ bảy khi được chuyển thành thanh tịnh, sẽ kết đồng với bình-đẳng-tính-trí là thường xuyên nhận thức không có nhân-ngã và pháp-ngã thì nó lại làm chỗ nương thanh tịnh cho sáu thức trước, như có bộ lọc tốt nên nước chảy qua luôn được tinh khiết vậy.
Ha ha!
Cuối cùng ta cũng đã tìm ra
"Thằng-giặc" lâu nay vẫn trong nhà
Sinh tử cũng đều do nó cả
Thấy rồi cho nhà, cho-luôn-Ta.
( ghi chú: thằng-giặc là nói đến Mạt-na thức. Cho-luôn-ta là nói về xả cái ngã chấp.)

Tiểu kết:
    Tỏ rõ được thức Mạt-na rồi thì chúng ta thường chú ý chính niệm để chuyển thức thành trí là bình-đẳng-tính-trí, để cho quá trình hoạt động kinh doanh mỗi mỗi quyết định, mỗi mỗi hành động từ thân, khẩu, ý đều được thanh tịnh, dứt trừ hết nhân-ngã và pháp-ngã, tạo ra môi trường sống làm việc an lành cho tất cả. Kinh doanh trên nền tảng bình-đẳng đó là được lợi mình, lợi người, lợi xã hội cũng là cốt lõi của hoạt động theo Chính-nghiệp, một trong tám con đường Bát-Chính-Đạo mà đức Phật đã thị hiện giáo hoá.
-------
(Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng -Bài viết ngắn được ghi lại này theo nhân duyên mạn đàm với anh Vạn Đạt chủ tịch DTV-Group, tại Paske, hoàn thành lúc 18 giờ ngày 19/7/2014, xuất hiện cầu vồng rất đẹp.)
---------
Nói thêm về nhân địa của Bồ tát khi tu chuyển thức Mạt-Na thành trí:
      "Các vị Bồ tát lên Sơ địa, tức là cực hỷ địa hoặc Hoan-hỷ -địa, thì những phân biệt ngã-chấp, phân biệt pháp-chấp đều được diệt trừ, thức thứ sáu thường ở trong song-không-quán, quán này ngăn không cho những câu-sinh-ngã-chấp, câu-sinh-pháp-chấp tự do phát khởi, nên lúc đó, thức thứ bảy cũng bắt đầu kết đồng với bình-đẳng-tính-trí; nhưng do sức của trí này còn yếu nên chưa lấn át được hoàn toàn những mê chấp trong thức thứ bảy. Đến bậc Bât-động-địa là Bát địa Bồ tát, thức thứ bảy hoàn toàn thanh tịnh, không còn nhân-chấp-pháp và ngã-chấp-pháp thì thức thứ sáu cũng thường xuyên ở trong song-không-chân-như. Lúc này thức thứ sáu kết đồng với Diệu-quán-sát-trí, thức thứ bảy kết đồng với Bình-đẳng- tính-trí, trụ tướng vô minh hoàn toàn diệt trừ và các vị Bồ-tát vào vô-dư-niết-bàn, không còn phải dụng công để dứt trừ các chi-mạt- vô- minh chấp có nhân-ngã và pháp-ngã nữa.Các vị Bồ tát diệt trừ ngã-chấp, pháp-chấp là diệt trừ hiện hành, chứ không phải diệt trừ chủng tử của các chấp ấy; các chủng tử vẫn còn nhưng bị trí-chân-như đối trị nên không còn khả năng hiện hành nữa. Khi vào Kim cương đạo, lên bậc Như-Lai thì tất cả chủng tử đều chịu ảnh hưởng của tự-nhiên-trí, vô-sư-trí, vô-ngại-trí, và hoà hợp thành nhất-thiết-chủng-trí."

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Đu đưa


Nhân duyên ăn trưa rồi xuống thăm anh em ở công trình, lại chiếc võng nghỉ trưa dưới gầm nhà sàn ở Paske Lào, hình như vẫn dành riêng cho tôi mỗi khi không có ai nằm.

À...tôi, nằm võng, võng đưa võng đưa...

     mãi ngân nga với câu ca trong một bài hát nói về cái đu đưa của tiếng võng mẹ ru. ngắm trời trông đất, chợt thấy cái hiện sinh trong cõi đời này ầu ơ ở tính tương đối, mọi sự đều đu đưa khi bên này khi bên kia: Từ trần gian lạc thú tới tiên cảnh phiêu du, rồi lại đu đưa sang cõi tử-cõi sinh, cõi tình-cõi hận...Cái chặng đường đu đưa đó có khi tới đỉnh núi cao để đủ duyên nhào xuống vực sâu, rồi đôi khi bò qua được nỗi khổ của mình thì vướng lại những niềm đau cho kẻ khác. Như vậy nguyên lý của cuộc sống vốn đã tiềm ẩn trong tiếng võng đưa từ thuở mới sinh, ta chóng mặt bởi vì khi ở bên này lại sợ phải về bên kia, cái chấp thủ mải mê này làm ta quên đi bản tâm thường trụ vốn an lạc, vốn không có đu đưa...
...hết ầu ơ, đu đưa rồi ta mới tỏ rõ cái tịnh cái thanh làm cho mọi sự đều là thành là thật, thì lại tự chủ nằm xuống cho võng đưa, võng đưa...
a...tôi, nằm võng, võng đưa võng đưa...

x

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Tìm em

D


Tìm em ở bến chân tâm
Giong thuyền Bát-Nhã âm thầm anh qua
Duy-thức tướng sóng gần xa
Lăng-nghiêm đại định bao la đất trời
Pháp-Hoa, một đoá sen tươi
Ngời trong ánh mắt mười phương ta bà
Chính Tà một thể Duy-Ma
Rời xa vọng tưởng Lăng-Già truyền trao
Tĩnh tịch mặc kệ Trần xao
Thấy em vẫn đó, chưa bao giờ rời!

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Gia đình của Bồ tát

Bát Nhã Ba la mật là Mẹ
Phương tiện tu học và hoá độ chúng sinh là Cha
Niềm vui pháp hỷ là Vợ
Tình thương là con gái
Tâm thành là con Trai
Sự yên tĩnh vắng lặng là Nhà
Những ô nhiễm, phiền não, trần lao là Học-trò
Ba bảy phẩm trợ đạo là Bạn-lành
Sáu Ba La Mật là Bạn-tu
Tứ Nhiếp Pháp là ca sỹ, kỹ nữ mua vui
Đại thừa là xe cộ
Cương lái để điều khiển ngựa là nhất Tâm ( định )
Áo quần và vật trang điểm là sự Hổ thẹn.


Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Thiện và Ác

Mạn đàm
T H I Ệ N    Á C
------------------
(theo quan điểm nhà Phật)

Phật Pháp ở thế gian cốt giúp chúng ta đoạn ác, tu thiện. Những việc gì làm mà có lợi cho mình cho người ở hiện tại và vị lai gọi là thiện. Điều gì có hại cho mình cho người ở hiện tại và vị lai gọi là ác. Thiện ác theo đó được chia thành ba phần:
- Hữu lậu ác,
- Hữu lậu thiện,
- Vô lậu thiện.
Ác ở thế gian có nhiều, có thể tóm gọn thành hai thứ là thập ác và ngũ nghịch:
+ Thập Ác ( mười cái ác):
1- Ba nghiệp về thân ( Sát sinh, Thâu đạo, Tà dâm )
2- Bốn nghiệp về khẩu: vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt,
3- Ba nghiệp về ý ( Tham, Sân, Si )
+ Ngũ Nghịch ( năm tội lớn ): Hại mẹ, hại cha, hại Alahan, phá hoà hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu )
Thiện mà đem tâm nhân ngã để hành thì gọi là hữu lậu thiện, nghĩa là còn hạn chế. Hữu lậu thiện theo tính chất lại có: Chỉ thiện và tác thiện.
Đại ý của Phật pháp ở bài kệ:
Chư ác mạc tác.
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Hai câu đầu bài kệ nói về thiện ác có nghĩa là các điều ác quyết không làm thuộc về chỉ thiện. Các điều thiện quyết làm thuộc về tác thiện... ).
Thiện ác là phép đối đãi, cho nên tuỳ theo địa vị mà cái nghĩa thiện và ác có khác. Thiện hữu lậu thì có cái quả báo hưởng phúc ở cõi nhân thiên, nhưng vì chưa giải thoát ngoài vòng sinh tử nên đối với Tạng giáo cũng gọi là ác. Duy chỉ có hạnh từ bi cứu người, tự độ mình, độ kẻ khác ra khỏi vòng sinh tử mới gọi là thiện. Song Tạng Giáo chỉ mới tự độ mình ra phân đoạn sinh tử và độ chúng sinh hữu duyên khỏi phân đoạn sinh tử nhưng chưa đoạn được pháp chấp nên đối với Thông giáo cũng còn gọi là ác. Thông giáo đoạn được tất cả vọng kiến của chúng sinh nên gọi là thiện, nhưng đối với Biệt giáo gọi là ác bởi vì chưa thấu rõ lý trung đạo. Biệt giáo thấy được lý Trung đạo nên gọi là thiện, nhưng Trung đạo của Biệt Giáo còn bức bách chưa độ sinh hoàn nên đối với Viên giáo cũng còn gọi là ác. Vậy Diệu viên Trung Đạo của Viên giáo mới thật là chí thiện. Đối với Viên Giáo thì thuận theo thực tướng là thiện, trái với thực tướng là ác, rõ suốt Viên lý là thiện, chấp trước Viên lý là ác. Thế mới biết đối với Viên Giáo- Bồ Tát duy có Viên lý thực tướng mới là thiện mà thôi.
Trên đây là nói đạo lý về Thiện, Ác từ Tạng giáo đến Viên giáo. Đối với hàng hậu học sơ cơ như chúng ta, việc tu Vô lậu thiện là đoạn trừ được Kiến hoặc và Tư hoặc, thuận theo tam pháp ấn là " Không, Vô tướng, Vô tác " để các việc ác quyết không làm, các việc thiện quyết làm. Khi hành bố thí thì không chấp vào mình là người bố thí, không chấp có người nhận bố thí, có vật để bố thí. Nghĩa là rời nhân ngã, thuận theo lý Trung Đạo mà lìa các pháp đối đãi. Khi đó trong không có tâm phân biệt, ngoài không bị hoàn cảnh ràng buộc, thì còn gì là ưa, ghét, buồn, sợ tức đoạn trừ được phiền não. Được như thế, sống như vậy mới là Vô lậu thiện.
Cho nên:
Muốn đến Tây Thiên
Phải hành thập thiện
Bỏ các ác hành
Tinh tiến đi nhanh
Chăm tu thiền định
Tuỳ duyên nhưng tịnh
Cứu khăp hữu tình
Pháp giới chúng sinh
Bồ đề tịch tĩnh.
( Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng)
-----

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2014

Maha Tát đát đa, Bát lát đa


Xa xa
Dáng Hạc thong dong,
Đầy sân bóng đổ
trong ngần ánh trăng.
Trong ta
bóng tối đang nằm,
Bỗng! vần thơ cũ
trổ mầm đi ra...
...Ma ha
Tát đát đa!
Bát đát ra!

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

Từ thiện Đạo Phật




Mạn đàm

TỪ THIỆN

(Tổng hợp: Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng)

Từ là thương xót, thiện là hiền lành; từ thiện là trước lòng trắc ẩn, tự nguyện làm những việc cứu tế, không thiên chấp một phương diện nào dẫu tinh thần hay vật chất. Chẳng những đói cho ăn, rét cho mặc là từ thiện mà bỏ công bỏ của lập Viện dưỡng lão cấp dưỡng  người già cả, lập Dục anh đường săn sóc lũ trẻ thơ, làm nhà thương cứu chữa tật bệnh, dựng trường học mở mang trí thức cho đến khuyên điều lành dạy lẽ phải, sửa đường sá, làm cầu cống, v.v… đều là việc từ thiện, vì giúp cho đời được bớt ít phần thống khổ.


          Thời mạt pháp hiện nay, tà kiến nổi lên rất nhiều, để cho việc tu hạnh Bồ Tát, tự lợi lợi tha được viên mãn, người con Phật phải phát tâm dũng mãnh tinh tiến, ngày đêm quán chiếu bằng trí Bát Nhã để thấy rõ được nguồn gốc của việc từ thiện, từ nguyên nhân đến kết quả mới mong giúp cho chúng sinh được cái an vui chân thật lâu dài. Vì nhân duyên này mà chúng ta những người phát tâm từ thiện phải dày công tìm hiểu, nhọc tâm suy ngẫm về bản chất công việc từ thiện.

Như vậy Thế nào là từ thiện thế gian, thế nào là từ thiện Đạo Phật?.

Từ thiện thế gian

         

Từ thiện thế gian gốc ở lòng nhân ái. Nhân ái là xét nơi mình mà nghĩ đến người, chẳng những không làm việc tổn hại mà thường thương xót, tự đặt mình nơi địa vị người và tìm cách làm điều lợi lạc. Lòng nhân ái rất đáng quý, nhưng vì lòng nhân ái thế gian thường chỉ để đối với các loài có ý chỉ, có tình cảm như mình nghĩa là đối với đồng loại mà thôi, nên không được rộng lớn và công đức thành cũng có hạn lượng ( giới hạn).

          Ở thế gian, công việc từ thiện đại khái do các nguyên nhân sau đây:

1. Một là do tư cách sẵn có: - Chúng tôi, trải đời này sang đời nọ, từ thân này đến thân khác, đã chịu biết bao điều thống khổ nên cũng đã nuôi sẵn hạt giống nhân ái, nay vì thiện duyên đặng sinh làm người, thì hạt giống ấy càng tấn phát. Vậy nên trước cảnh tượng thống khổ, lắm người đã sinh lòng trắc ẩn và tuỳ theo sức mình gắng làm các việc từ thiện.

2. Hai là do tập quán: - Tập quán là tập lâu thành thói quen, lược có hai phần:

a. Tập quán vì giáo dục, như được sinh trong gia đình hiền lành hằng ngày nghe lời dạy bảo, thấy cách thực hành, tập thành thói quen, rồi cũng hoá ra người từ thiện.

b. Tập quán vì việc làm, như đã ra tay làm việc từ thiện thì lần lần quen tính thường nghĩ đến người, xét công việc mọi người đều có quan hệ đến sự sinh tồn của mình và tự nhận có cái trách nhiệm làm việc lợi ích của mình và tự nhận có cái trách nhiệm làm việc lợi ích cho người để báo đáp ơn đức.

3. Ba là vì muốn tìm sự hạnh phúc cho mình: - Chẳng nói đến những người làm việc từ thiện với cái tâm không từ thiện để mưu cầu danh lợi mà họ đã nhận lầm đó là hạnh phúc; lắm bậc từ thiện vì thường tự đặt mình vào địa vị người nên đã có thể nhận cái hạnh phúc của người làm cái hạnh phúc của mình, mỗi khi làm từ thiện thì thấy được lợi lạc thì tâm trí nhẹ nhàng, tinh thần vui vẻ, đến nỗi về sau chỉ nhận sự ban bố hạnh phúc cho kẻ khác là hạnh phúc mà thôi. Sách Nho có câu “ tối thiện vi lạc” để miêu tả chỗ dụng tâm quý hoá ấy.

          Các việc từ thiện, nguyên nhân đã không đồng, công đức cũng vì đó mà sai khác. Về công đức, chúng ta có thể lược chia những người làm việc thế gian ra ba hạng:

          a. Hạng ham vui: - Hạng này tuy sẵn hạt giống nhân ái, song vì mải lăn lộn theo ngũ dục, xoay vần theo hoàn cảnh, nên tính nhân ái không có dịp phát hiện. Đến khi nghe có người hô hào tổ chức cuộc này, hội nọ để giúp đỡ cho kẻ bị nạn thì họ cũng sẵn lòng hưởng ứng trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng rồi hạt giống nhân ái lại ẩn nấp như cũ. Hạng này như cái chuông có đánh mới kêu, nên công đức không được bao nhiêu.

          b. Hạng vì danh lợi: - Hạng này làm công việc từ thiện để trông mong kiếm chút danh lợi, bỏ tiền trăm bạc ngàn chuộc một cái địa vị trong xã hội, mục đích cốt cho quan trên yêu chuộng, làng xóm nể vì, trong lúc sống được người để ý đến mình, đến khi chết được lưu danh muôn thuở. Hạng người này cũng quý hoá lắm tiếc vì phát tâm không được chính đáng nên kết quả có nhiều nỗi quanh co, lắm khi tuy mặt ngoài làm nhiều việc thiện rực rỡ mà trong u ẩn cũng cứ như làm điều độc ác, đến nỗi công đức không đền bù nổi ác báo.

          c. Hạng cầu hạnh phúc: - Hạng này hoặc vì vui với việc lành, hoặc vì biết lý nhân quả mà làm từ thiện. Công đức hạng này rất to tát nhưng vì còn tính vị kỷ, nên không khỏi so đo, phân biệt việc khó việc dễ, kẻ thân người sơ, lợi ích nhiều ít, công đức lớn nhỏ; nhân đó  mà kết quả cũng có hạng lượng.

 

Từ thiện Đạo Phật

 

Từ thiện Đạo Phật gốc nơi Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Đạo Phật xét rõ thân chúng sinh chỉ là cái thân tạm trong một đời, đến khi chết lại phải theo nghiệp mà thụ sinh: Nghiệp lành thì lên những bậc trên, nghiệp dữ thì xuống những bậc dưới, nghiệp trung bình thì không lên không xuống, nhưng lắm khi lại sinh về thế giới khác. Đời này sang đời khác, chúng sinh luân hồi mãi mãi trong vô lượng vô số kiếp, nên chúng sinh nào cũng đã nhiều phen gặp gỡ nhau, làm bà con họ hàng, bạn bè quyết thuộc. Do đó đối với toàn thể chúng sinh, người Đạo Phật đều thương một cách bình đẳng không thiên vị đồng loại mà bỏ các loại khác.

          Đạo Phật lại xét những vui khổ ở đời đều đối đãi với nhau mà thành, cái vui thường đeo theo cái khổ và vui chỉ là sự hết khổ.

          Đạo Phật lại xét toàn thể chúng sinh đều có cái tâm như Phật; cái tâm ấy không vì sự mê lầm của chúng sinh mà sai khác. Chúng sinh đã có cái tâm như Phật, thì chúng sinh nào cũng đều có thể thành Phật, miễn có chí tu tập theo chính pháp.

          Do đó, người theo đạo Phật chẳng cho việc cứu khổ chúng sinh trong một thời gian là đủ mà cốt phải làm thế nào cho chúng sinh chứng rõ tâm tính và hưởng được hạnh phúc hoàn toàn như Phật.

          Vì cái chí nguyện ấy, người đạo Phật phát sinh ra bốn đức Từ, Bi, Hỷ, Xả.

          1. Đức Từ là thương chúng sinh như bà mẹ lành thương con. Bà mẹ chẳng những lo cho con được no ấm mà cốt nhất mong cho con về sau được thành những người học vấn uyên thâm, thành những bậc chính nhân quân tử. Đức từ cũng vậy, đức Từ chẳng những làm cho chúng sinh được vui vẻ về hiện tại, mà cốt nhất làm thế nào cho chúng sinh ra khỏi vòng khổ não, được cái vui nhẹ nhàng sáng suốt, lâu dài, bền chắc của những bậc giác ngộ.

          2. Đức Bi là đối với chúng sinh đương bị tai nạn đau khổ, phát tâm thương xót mà tìm cách cứu vớt. Đức Bi rất trọng yếu cho sự tu tập đạo Phật vì là cội gốc của muôn hạnh muôn đức. Nhờ có đức Bi, chúng sinh mới có thể phát tâm Đại Thừa, tu thành quả Phật. Nguyên nhân phát ra đức Bi vô biên vô lượng: có chúng sinh thấy người thiếu ăn thiếu mặc mà phát ra đức Bi; có chúng sinh thấy cõi đời vô thường, già đau, sống, chết không ngừng mà phát ra đức Bi; có chúng sinh vì thấy đời đau đớn về ái biệt ly khổ mà không biết đoạn lòng ái nên phát ra đức Bi; có chúng sinh thấy người đời tranh nhau trục lợi, lo buồn đau khổ mà không biết đoạn lòng tham nên phát ra đức Bi; có chúng sinh vì thấy người đời mê theo ngoại đạo tà giáo không biết tu tập chính pháp mà phát ra đức Bi; có chúng sinh vì thấy người đời không muốn tai nạn mà cứ tạo ra nhân khổ não nên phát ra đức Bi. Trong lúc ban đầu, người đạo Phật tuy cũng thương người, thương vật, làm việc cứu tế, dạy cách tu trì nhưng vì chưa phát ra trí tuệ, chưa đủ năng lực nên còn có chướng ngại, còn có hạn lượng.

          Về sau, chứng được Chân Như trí, đem cái diệu dụng của trí ấy mà làm việc từ thiện thì mới thật là đại bi, vì có thể cứu độ một cách rốt ráo vô lượng vô biên chúng sinh, không còn bị tình cảm phân biệt hạn chế.

          3. Đức Hỷ là vui mừng trong khi gặp gỡ chúng sinh, vì có gặp gỡ mới có thể cứu độ. Đức Hỷ làm cho người tu hành được tinh tiến. Trong lúc độ sinh gặp những sự khó khăn đau đớn cũng vui vẻ bước tới, dầu tự mình chưa giác ngộ. Đức Hỷ lại làm cho các chúng sinh vui lòng nghe lời dạy bảo, vì đức Hỷ có thể cảm hoá chúng sinh làm cho phát tâm hoan hỷ trong khi gặp gỡ.

          4. Đức Xả là nhận rõ muôn vật muôn sự đều chỉ là tướng đối đãi giả dối, không có tự tính nên không sinh lòng chấp trước. Nhờ đức Xả, người tu hành tránh được các điều danh lợi, các lòng kiêu mạn, các sự tham cầu, dầu là tham cầu Niết-bàn cho mình và giải thoát được ra ngoài hạng lượng. Nói tóm lại, Từ và Xả là cái quan niệm bề trong, Bi và Hỷ là cái đối niệm bề ngoài: nhờ có đức Từ và đức Xả nên đức Bi và đức Hỷ mới viên mãn.

          Cách thật hành từ thiện của đạo Phật có thể gồm trong bốn món nhiếp sự là: Bố thí, lợi hành, ái ngữ và đồng sự.

          1. Bố thí là gì? – Bố nghĩa là rộng, rộng khắp mọi người không phân biệt chỗ xa chỗ gần, xứ mình xứ người, không phân biệt kẻ thân người sơ, kẻ quen người lạ. Thí nghĩa là phân phát, phân phát những sự vật có của mình. Xem như vậy thì biết những người để của lại cho con không phải là bố thí, những người buôn bán đổi chác cũng không phải là bố thí.

          Bố thí là lấy của mình mà làm các thiện sự như giúp đỡ cho kẻ đói rét, cúng dường cho kẻ tu hành, v.v…

          2. Lợi hành là làm những việc lợi ích cho người như dắt dìu kẻ đui mù, cứu vớt kẻ tai nạn, an ủi kẻ lo buồn, giúp đỡ kẻ mệt yếu, hoặc làm những việc công ích như sửa đường sá, xây cầu cống, v.v…

          3. Ái ngữ nghĩa là lấy lòng từ bi mà thuyết pháp độ sinh; thuyết pháp độ sinh không ngoài bốn món Tất-đàn: Thế giới tất đàn, vị nhân tất đàn, đối trị tất đàn, đệ nhất nghĩa tất đàn.

           a. Thế giới tất đàn là thể theo lòng hy vọng của thế gian mà thuyết pháp để chúng sinh phát tâm nhàm chán các điều khổ não và tu tập cho đặng hoàn toàn hạnh phúc.

          b. Vị nhân tất đàn là tuỳ theo căn cơ mỗi người mà chỉ vẽ con đường tu hành

          c. Đối trị tất đàn là tuỳ theo phiền não mê chấp mà chỉ vẽ cách đối trị

          d. Đệ nhất nghĩa đế tất đàn là chỉ rõ chân như pháp tính để cho chúng sinh được giải thoát ra ngoài các hạng lượng, đối đãi.

          4. Đồng sự là đồng làm việc với nhau, như đồng hương, đồng tộc, đồng ở một công sở, đồng làm một chức nghiệp, v.v…, do đó mới làm cái gương đức hạnh, gây ra được thiện duyên và dắt dìu lần mọi người đều hiểu được chính pháp, tu được chính pháp và ra khỏi sông mê bể khổ.

          Công đức của công việc từ thiện theo đạo Phật là vô biên vô lượng. Dầu khi mới phát tâm, vì thương người thương vật đương chìm đắm trong biển sinh tử theo sức mình làm việc từ thiện có hạn lượng nhưng cái tâm từ, bi, hỷ, xả vẫn không hạn lượng nên công đức không thể kể xiết.

          Đại Nhật kinh có câu: “ Tâm Bồ đề là nhân, Đại bi là căn bản, phương tiện là cứu kính”. Nhân thấy sự khổ não mà động lòng thương xót, nhân động lòng thương xót mà phát tâm bồ đề, thực hành những việc tự lợi, lợi tha; nhân làm những việc tự lợi, lợi tha mà trí tuệ được sáng suốt, nguyện lực được rộng lớn, lần chứng được đức đại bi của các vị Bồ Tát. Do đức đại bi mà phương tiện hoá độ theo căn cơ chúng sinh đến khi công đức viên mãn tức là thành Phật.

          Thế mới biết làm việc từ thiện là một điều cốt yếu cho hàng Phật tử; vì ngoài việc từ thiện thì không thể nào đầy đủ công đức mà thành quả Phật.
 

 

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Tịnh độ


Phép tu Tịnh Độ


Thường ngày sau mỗi thời hành trì, dù là tụng kinh trì chú hay toạ thiền, chúng tôi thường kết thúc bằng lục hoằng thệ nguyện như sau:

Chúng sinh vô biên thề nguyện độ
Phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phúc trí vô biên thệ nguyện tu
Như Lai vô số thệ nguyện thị giả
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Pháp môn tu Phật thật là vô lượng, người con Phật đã phát tâm Vô thượng Bồ đề thì phải tinh tiến tu học theo các pháp môn Phật dạy để dần thanh tịnh thân tâm, học rộng để đắc Bát Nhã trí, song song độ mình độ người để cùng giải thoát mọi sự huyễn hư. Cái nhân Tinh tiến nhiều đời nhiều kiếp như thế cái Quả vị lai sẽ hội đủ ba đức của Niết Bàn gồm: đại Pháp thân là thật thể, đại Bát Nhã là thật trí, đại Giải Thoát là thật dụng.

Về phương diện Y Báo, thành Phật chính là biến cõi thế giới của mình thành cõi Tịnh Độ, Tịnh là thanh tịnh không có uế trược, Độ là môi trường phong thuỷ xuất thế gian ( Sở duyên duyên) để hoá độ chúng sinh.

Như vậy, pháp tu Tịnh độ vốn vô lượng, học mấy cũng không tới, suy nghiệm mấy cũng không cùng. Nhân duyên cùng sam học cùng chư vị đạo hữu, Quảng Kiến tôi nay tổng hợp các bài giảng của Ngài Trưởng Giả Tâm Minh Lê Đình Thám mong mỏi chia sẻ kiến thức Phật học, tất cả cùng chiêm nghiệm và ứng dụng giáo lý của Phật, chắn chắn hiện tại sẽ được đôi phần tự chủ mà công đức tu học về sau thật khó thể nghĩ bàn.

Phép tu Tịnh độ vẫn vô biên vô lượng, nhưng ước lượng cũng có thể gồm trong ba cách là: phép tu thật chứng Tịnh Độ, phép tu Tạo thành Tịnh Độ, phép tu vãng sinh Tịnh Độ.

I. Phép tu thật chứng Tịnh độ

Phép tu này cốt để cho người tu hành thiết thật chứng được cảnh giới thanh tịnh.

          Kinh Hoa Nghiêm có câu “ Nhất thế duy tâm tạo”, nghĩa là mọi sư sự vật vật đều do tâm tạo ra. Đạo lý duy tâm rất vi diệu, nhưng trong đời sống bình thường cũng có thể xét nhận rõ ràng. Như trong một cảnh, đồng một việc, người ưa thì thấy đẹp hay ho, người ghét thì thấy xấu xa vụng về, đó là một ví dụ về hoàn cảnh thường tuỳ theo tâm niệm mà thay đổi. Ở giữa đời biết bao nhiêu cảnh làm cho người cười kẻ khóc, người vui mừng kẻ buồn tức; lại người đương vui thì thấy cảnh nào cũng tươi đẹp, người đương lúc buồn thì cảnh nào cũng đeo sầu, vậy là tâm tạo ra rõ ràng. Thế mà chúng ta không rõ lý duy tâm, gặp cảnh ưa thì nghĩ thật đáng ưa mà sinh lòng tham, gặp cảnh mình ghét thì làm ra những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng, làm tổn hại cho mình cho người. Vì chúng ta còn tham chấp như vậy nên trong cảnh giới duy tâm, chúng ta mới phát ra năm điều ham muốn là Ngũ dục. Ngũ dụng là tài, sắc, danh, thực, thuỵ: Tài là ham muốn của cải, sắc là ham muốn sắc đẹp, danh là ham muốn danh tiếng, thực là ham muốn ăn uống, thuỵ là ham muốn ngủ nghỉ. Năm điều đó làm cho chúng ta say mê theo hoàn cảnh, dong ruổi theo hoàn cảnh, không lúc nào được thanh tịnh; mà tâm không thanh tịnh thì cảnh giới cũng hoá thành không thanh tịnh. Vậy người tu hành muốn thật chứng Tịnh độ trước hết cần dứt trừ năm điều ham muốn ấy, lấy sự dứt trừ ấy làm cái hy vọng, cái mục đích của cuộc đời mình, hằng ngày xét rõ cái nguyên nhân và cáu kết quả xấu xa của nó mà chán hẳn đi thì một ngày kia mới được ra khỏi vòng Ngũ dục và được tâm ly dục. Tâm được ly dục thì cảnh giới sẽ hoá ra an vui trong sạch, không còn gì làm cho tâm phải buồn rầu đau đớn nữa. Chừng ấy mới đem tâm ly dục mà tu phép Vô ngã để ra khỏi luân hồi, tu phép Bất nhị để chứng tính Chân như: Tâm càng thanh tịnh chừng nào thì cảnh giới càng thanh tịnh chừng ấy, đó là phép tu hành thật chứng Tịnh độ.          

 

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Diệu pháp Liên Hoa


KINH PHÁP HOA
HUYỀN NGHĨA
 

Bài thơ:
CHƯ PHÁP THẬT TƯỚNG
-----------------------------------
Tướng trắng Tính vàng Thể đó mà
Sum la diệu Dụng một cành hoa
Nhân Duyên hạt giống sinh bông, Quả
Sáng-tối nhỏ-to Lực Tác ra
Duyên Khởi trùng trùng gốc (Bản) tới ngọn (Mạt)
Pháp môn Tích, Bản lý gần xa
Ta Bà Phật hiện bày tri kiến
Pháp giới rõ là : một đoá hoa!
-----------------------------( Quảng Kiến)
Ghi chú:
Chư Pháp thật tướng là điều đức Phật chỉ thẳng cho chúng sinh biết rõ hình tướng chân thật của pháp giới ở ngay phẩm phương tiện Kinh Pháp Hoa. Nói đến thật tướng của chư pháp là nói đến vạn hữu trong pháp giới, các pháp đều có hình TƯỚNG kết hợp với TÍNH-chất thành ra THỂ. Thể có ảnh hưởng tạo ra tác dụng là DỤNG, Dụng này có sự tương tác ra xung quanh là TÁC. Tác có lực nhất định gọi  là LỰC. Lực này tạo ra kết quả là QUẢ. Quả có cái đối ứng lại gọi là BÁO. Tất cả có sự kết hợp như vậy gọi là DUYÊN. Duyên nào cũng có nguyên nhân là NHÂN. Nhân đều có nguồn gốc là BẢN ( gốc). Tất cả đều có duyên khởi trùng trùng gọi là MẠT ( cành lá rễ...). Phần thập (10) như thị ( TƯỚNG, TÍNH, THỂ, TÁC, LỰC, QUẢ, BÁO, NHÂN, DUYÊN, MẠT, BẢN) nói về tính thường trụ của vạn pháp, gọi là "chư pháp thật tướng". Rõ được thật tướng thì thấy được tính “Duyên Khởi trùng trùng gốc (Bản) tới ngọn (Mạt)” là thật tính của các pháp, năng quán sát sự sự vật vật như vậy đến khi thành thục thì gọi là “kiến tính thành Phật”, đó cũng là ý bản hoài của chư Phật, để cho chúng sinh thấy rõ sự việc Phật đản sinh là “Ta Bà Phật hiện bày tri kiến”. Cái tri kiến này, như cái thấy của ngài Ma ha Ca Diếp trong hội Linh Sơn được Phật ấn chứng làm Tổ Thiền tông,  khi đức Phật đưa cành sen lên thì ngài mỉm cười ( niêm hoa vi tiếu ).
Ta đã có Chánh pháp Nhãn tàng, Niết bàn Diệu tâm, Thực tướng Vô tướng, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp.”
Lời phó chúc trên của Phật cho ngài Ca Diếp là tông chỉ của thiền tông 32 đời Tổ Sư. Cốt lõi cũng ở “ Thực tướng Vô tướng”. Chư pháp thật tướng cũng chính là chư pháp Thực tướng. Thực và Vô tướng này của các pháp chính là điều Phật muốn chúng sinh “Tri kiến”, đó chính là huyền nghĩa mà Phật thấy nghe về chư pháp.
            Kinh Pháp Hoa huyền nghĩa, ý chỉ thẳng về Chân tâm hay Tri kiến Phật, ở phẩm nói về chàng Cùng-Tử có viên ngọc quý đeo ở trong người mà không biết lại phải nhọc công lặn lội đi ăn xin khắp nơi. Viên ngọc quý này như Tổ sư Nhất Không từng nói với ngài Bao Thanh Thiên ( Bao Công ):
                       
Ta có viên ngọc quý
Bấy lâu bụi lấm đầu
Ngày nay thân tâm sạch
Rũ bỏ mọi tình sầu
Tâm ta là nguồn sáng
Soi chiếu khắp nơi nơi
Trăng thanh là phú quý
Gió mát là công danh
Cho vui là chí nguyện
Cứu khổ ấy thực hành

Ngài Nhất Không Tổ sư muốn nói với Ông Bao Công về “viên ngọc quý”, “ bụi lấm”, “ ngày nay thân tâm sạch”, “rủ bỏ mọi tình sầu” là TƯỚNG.  Câu “ tâm ta là nguồn sáng” là TÍNH. Câu “ soi chiếu khắp nơi nơi” là DỤNG. Tướng cộng Tính là Thể, phát ra diệu DỤNG từ bi phổ độ chúng sinh hiện tướng là đại Hạnh Phổ Hiền, với tứ dụng của Bồ Tát là: từ, bi, hỷ, xả. Thể, dụng, tướng, tính, chính là nói  đến nhân quả đồng thời của Hoa Sen hay Liên Hoa, nghĩa là nói đến duyên khởi trùng trùng, vì nhân làm ra quả, quả lại làm nhân mới…, dụ như cái xấu lại là nhân của cho cái tốt ( câu chuyện rắn cắn ngón tay!), đó cũng là mật nghĩa của câu: “ phiền não tức Bồ Đề” vậy. Sự sự việc việc xét cho cùng tột như vậy thì không có cái gì là chủ thể, không có điều gì là luôn đúng là luôn sai, không có ai là quyết định được sự việc mà không dựa vào nhân duyên của nhiều người trong pháp giới… Cái này đối với cái kia âu cũng là ở quan niệm mà không phải thật có, như vậy là mọi vật không sai khác, mà cũng không phải không sai khác. Tính Không-Hai này được ngài Đại Bồ Tát ở cõi nước Diệu Hỷ Phương Đông là ngài Duy Ma Cật đã hiện tướng Cư sĩ xuống cõi Ta Bà thuyết giảng với các vị đại đệ tử của Đức Thích Ca.

            Kinh Phật thuyết có nhiều, song cốt yếu vẫn để cho chúng sinh thấy rõ được Tri kiến Phật, thấu rõ chúng sinh nào cũng được thành Phật vào đời tương lai ( kể cả ông Đề Bà Đạt Đa từng nhiều lần hại Phật) ở phẩm Phật thụ ký, thời gian nhanh hay chậm phụ thuộc vào tâm tinh tiến của mỗi cá nhân chúng sinh…

            Tri kiến Phật mà đức Phật chỉ bày trong Pháp Hoa Kinh như vậy là tính duyên khởi trùng trùng của pháp giới. Pháp giới có vô cùng vô tận thì cũng duyên khởi từ những điều tưởng như rất nhỏ, như một bông hoa vậy thôi. Đó là huyền ý hai câu cuối của bài thơ chư pháp thật tướng:
 
“ …Ta Bà Phật hiện bày tri kiến
Pháp giới rõ là một đoá hoa.