Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh dịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

TỪ TƯỚNG NHẬP TÍNH – BIỂU TƯỢNG CỦA GIÁC NGỘ



LỜI TỰA

TỪ TƯỚNG NHẬP TÍNH – BIỂU TƯỢNG CỦA GIÁC NGỘ

"Vẫn nên đi đến chốn không nơi
Để thấy rõ hơn cái chẳng rời
Thuỷ Hoả Không hư từ Diệu biến
Bất giác chẳng hiện gió mây thôi."


Trong dòng chảy vô tận của thời gian và không gian, vạn pháp vận hành theo quy luật thành, trụ, hoại, không. Con người sinh ra giữa trời đất, bị cuốn theo dòng đời hối hả, thường mải mê chạy theo cái "Tướng" bên ngoài mà quên mất cái "Tính" chân thật bên trong. Chúng tôi, những doanh nhân Phật tử, trong quá trình tổ chức doanh nghiệp, đàm phán đối tác và tiếp xúc với đa dạng nền văn hóa, luôn trăn trở về con đường "tự lợi, lợi tha" – làm sao để việc kinh doanh vừa lợi mình, vừa lợi người, lại vừa lợi ích cho xã hội.

Cuốn sách "Bách pháp Thiền giải" ra đời từ chính những nhân duyên và trăn trở đó. Đây không chỉ là sự tập hợp các bài viết, mà là sự đúc kết quá trình chiêm nghiệm và thực hành đạo lý "Tùng Tướng nhập Tính" (Từ hình Tướng đi vào Tính. chất chân thật).

Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã dùng vô lượng phương tiện để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sinh. Giáo lý của Ngài khi quyền, khi thật, tùy thuận căn cơ. Nương theo tinh thần ấy, cuốn sách này mượn lăng kính của các môn khoa học phương Đông như Kinh Dịch, Tử Vi, Phong Thủy... để soi rọi vào bản chất của Tâm và Đạo. Chúng tôi không dùng Dịch lý để bói toán mê tín, mà dùng nó như một phương tiện thiện xảo để nhận diện sự vận hành của Nghiệp quả.

Độc giả sẽ tìm thấy trong cuốn sách này những luận giải về Bát quái không chỉ dừng lại ở sự đoán định kiết hung, mà là những bài học sâu sắc về đạo làm người và đạo trị thế:

• Từ sự mạnh mẽ, cương trực của Càn để học đạo của bậc Đại nhân, biết lúc "Tiềm", lúc "Hiện", lấy Nghĩa đức làm đầu,.
• Từ sự nhu thuận, bao dung của Khôn để thấu hiểu hạnh nguyện "Hậu đức tải vật", lấy Nhân đức làm gốc,.
• Từ tiếng sấm thức tỉnh của Chấn để học sự linh hoạt, quyết đoán nhưng không vọng động.
• Hay từ sự hoan hỷ của Đoài để chuyển hóa nỗi buồn (Ai) thành niềm vui trong chánh pháp (Pháp hỷ).

Tất cả các hình tướng, từ những ngôi sao trong lá số Tử Vi đến hình thế đất đai trong Phong Thủy, đều được chúng tôi luận giải dưới ánh sáng của luật Nhân Quả và lý Duyên Khởi. Chúng tôi quan niệm rằng: "Tiên tích đức, hậu tầm long". Số mệnh không phải là sự an bài bất biến của một đấng tạo hóa nào, mà chính là sự vận hành của Nghiệp lực. Hiểu rõ điều này, chúng ta mới có thể chuyển hóa "Nghiệp lực" thành "Nguyện lực", chuyển cái "Số" định sẵn bằng cái "Lý" của sự tu dưỡng.

Thông qua các bài viết, chúng tôi mong muốn gửi gắm thông điệp: Dù làm chính trị, kinh tế hay đời sống thường nhật, đều có thể ứng dụng Phật pháp để chuyển hóa thân tâm. Như lời người xưa dạy:

"Tri ác kỷ vi anh (Biết cái ác của mình để sửa gọi là Anh).
Diệt ác kỷ vi hùng (Diệt được cái ác của mình để thành người thiện gọi là Hùng).
Như thế gọi chung là ANH HÙNG".

Chúng tôi mạo muội dùng cái tri kiến nhỏ nhoi của mình để tổng hợp lại, ngưỡng mong các bậc Tôn túc, Thiện tri thức chỉ bảo thêm. Hy vọng cuốn sách này sẽ là một trợ duyên lành, giúp quý vị vững bước trên hành trình từ mê sang ngộ, từ thế gian tiến lên xuất thế gian.

Hậu học Quảng Kiến - Nguyễn Việt Hồng Kính bút.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

THIÊN VĂN ĐỊA LÝ NĂM 2025

DỰ ĐOÁN THIÊN VĂN – ĐỊA LÝ NĂM 2025

Chủ đề: 

Yêm Hỏa vận – Tam nguyệt đại và sự chuyển mình của Thiên thời, Chính trị, Kinh tế Việt Nam

Tác giả: Hậu học Quảng Kiến

https://youtu.be/7SnYKvS2_tU?si=KDT5ThhnEF3lj76n


CHƯƠNG I. DẪN NHẬP – 

TỪ NGUYÊN KHÍ CỦA NĂM ẤT TỴ

Năm 2025 là Ất Tỵ, một năm mang năng lượng của âm Hỏa – khí của Minh minh chi Hỏa, tức “ngọn lửa sáng mà ẩn sâu bên trong”.

Tỵ thuộc Hỏa, Ất thuộc Mộc. Mộc sinh Hỏa, do đó thiên thời vốn có cơ hội phát triển, song vì khí của năm thuần Dương, gặp Yêm Hỏa nên bề ngoài sáng rực mà bên trong hao mòn.


Theo thiên văn Việt Nam, năm này nằm trong vận sao số 4 – Yêm Hỏa, một vận có tính “đốt cháy” và “tiêu hao”, khiến những gì yếu, giả, hư, dối sẽ bị thiêu rụi.

Vận này đồng thời mang danh Pháp Vân – Pháp Vũ, là cách “mưa gió của Thiên pháp” – mưa để rửa sạch, gió để thanh lọc, nhưng nếu nghiệp lớn thì mưa gió hóa tai ương.

Như vậy, Ất Tỵ 2025 là một năm thanh lọc – thử lửa – tái sinh, vừa là cơ hội lớn, vừa là cảnh báo cho những ai còn ôm giữ sự tham cầu, giả dối hay cưỡng nghịch thiên đạo.

CHƯƠNG II. 

THIÊN VĂN VÀ KHÍ HẬU – DẤU HIỆU CỦA “PHÁP VŨ”

Trong lịch pháp Việt, năm 2025 đặc biệt bởi có ba tháng liền đủ 30 ngày – dân gian gọi là Tam nguyệt đại.

Theo cổ thư “Lạc Việt Địa Số”, những năm có tam nguyệt đại thường ứng với các biến động lớn về khí tượng, nhất là bão tố, lũ lụt và hạn hán thất thường.

Pháp Vân – Pháp Vũ tượng trưng cho mưa thuận gió hòa, nhưng khi gặp Yêm Hỏa thì mưa hóa dữ, gió hóa bạo.

Điều này gợi báo rằng Việt Nam sẽ có năm thời tiết cực đoan:

  • Mưa lớn miền Trung – Nam,
  • Hạn cục bộ miền Bắc,
  • Và nhiều biến động khí hậu vùng biển Đông – đặc biệt là các cơn bão muộn vào cuối thu, đầu đông.

Về mặt “Thiên tượng”, sao Hỏa chiếu mạnh vào cung Đông Nam và Nam, ứng với khu vực miền Trung và Tây Nguyên – những vùng sẽ chịu biến động mạnh về địa lý, thời tiết và dòng chảy kinh tế – dân cư  


CHƯƠNG III. 

CHÍNH TRỊ – KHÍ CỦA LỬA, SỰ THANH LỌC CỦA THỜI CUỘC

Hỏa tượng là ánh sáng và minh triết, nhưng cũng là thanh lọc và thiêu hủy.

Trong đạo Dịch, năm Yêm Hỏa thường ứng với “pháp trị thịnh hành” – nghĩa là thời thế đòi hỏi sự minh bạch, chỉnh đốn và phân minh giữa thiện – ác.


Năm 2025, với thiên khí “Lưỡng Hỏa thành Lư”, các tổ chức chính trị, doanh nghiệp và cá nhân có quyền lực sẽ trải qua chu kỳ thanh lọc mạnh mẽ.

Người làm thiện, giữ chính tâm, hướng về lợi ích cộng đồng – Hỏa giúp luyện vàng thành kim, tạo nên cơ hội thăng hoa.

Ngược lại, kẻ tham, giả trá, lợi dụng quyền thế – Hỏa thiêu rụi mọi hư ngụy – đó là “Hỏa tiệt”, mất hết từ danh đến lợi.


Đặc biệt, từ tháng 9 âm lịch trở đi, vận hành Thiên thời chuyển từ Ẩn Hỏa sang Minh Hỏa – tức là sự thật được phơi bày, ẩn ngữ lộ ra ánh sáng.

Các vụ việc liên quan đến quyền lực, đất đai, chính sách tài nguyên có thể được xét lại – minh định – hoặc thay đổi sâu sắc  

CHƯƠNG IV. 

KINH TẾ – CHU KỲ TIÊU HAO VÀ TÁI SINH

Âm Hỏa trong dịch học tượng cho tiêu hao năng lượng – tức chu kỳ “giảm tốc – chuyển hóa – phục hồi”.

Do vậy, năm 2025 là năm khó đoán nhưng giàu cơ hội tái cấu trúc kinh tế.


  1. Giai đoạn 6 tháng đầu năm (tính theo âm lịch):
    – Thị trường năng lượng, kim loại, và đất đai có xu hướng trầm lắng.
    – Hỏa khắc Kim, nên các ngành ngân hàng, kim khí, và tài chính dễ biến động.
    – Doanh nghiệp cần giữ “thủy khí trong tâm”, tức là chậm, quan sát, chờ thời.
  2. Từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch:
    – Tháng Ất Dậu (hành Thủy): mưa bão, thiên tai, thiệt hại cho nông nghiệp và logistics.
    – Tháng Bính Tuất (hành Thổ): có sự phục hồi, song “lục sát” cảnh báo tai nạn tài chính hoặc chính trị bất ngờ.
    – Tháng Đinh Hợi (Thổ, chi Hợi là Thủy): dòng tiền quốc tế đổ về, nhưng dễ thất thoát nếu đầu tư mạo hiểm.
    – Tháng Mậu Tý (Hỏa): Lưỡng Hỏa thành Lư, là thời điểm vàng cho người làm thiện, đầu tư bền vững, và sáng tạo công nghệ – giáo dục – năng lượng sạch.

Tổng thể, kinh tế Việt Nam 2025 sẽ mang sắc thái “Hỏa luyện Kim” – phải qua khó khăn mới sinh lợi thực chất.

Người biết thuận khí, tu đức, giữ lòng nhân thì gặp vận phát; kẻ chỉ cầu lợi ngắn hạn thì lửa đốt cả gốc rễ.

CHƯƠNG V. 

KẾT LUẬN – NHÂN QUẢ VÀ THUẬN THIÊN GIẢ TỒN

Thiên văn, địa lý, và nhân sự vốn đồng nhất trong một vòng tuần hoàn lớn.

Năm 2025 – Yêm Hỏa vận – không phải là năm dễ dàng, nhưng là năm của cơ hội giác ngộ, của sự chuyển hóa nghiệp báo và tái lập trật tự mới.


Trong Kinh Dịch, quẻ Hỏa Phong Đỉnh dạy rằng:


“Đỉnh giả, dưỡng dã” – Đỉnh là vật để nấu, tượng cho sự luyện hóa, nuôi dưỡng trí và đức.


Như vậy, nếu biết lấy Hỏa làm Đỉnh – tức dùng thử thách để luyện mình, thì chính thời vận dữ lại trở thành thiên cơ mở đạo.

Người làm chính trị, nếu hành chính nghĩa, lấy dân làm gốc, giữ sự liêm minh – thì vận Hỏa hóa minh, đất nước sáng lên.

Người làm kinh doanh, nếu giữ đạo, không tham, không dối, phát triển bền vững – thì Hỏa hóa nhiệt, sinh ra phúc ấm cho muôn đời.


Cuối cùng, xin kết bằng lời Phật trong Kinh Tăng Chi:


“Người biết thuận thời, hành đúng pháp, dù trong lửa cũng không cháy.”


Năm 2025 chính là ngọn lửa ấy – ngọn lửa của thanh lọc, trí tuệ và tái sinh.

Người nào thuận theo sẽ lớn mạnh, người nào nghịch lại sẽ tiêu tan.




🎧 Podcast này được soạn và thuyết giảng bởi Hậu học Quảng Kiến – người tìm cầu chân lý qua Dịch học, Phật học và khoa học thiên văn cổ truyền Việt.

Nguồn tham chiếu: Lạc Việt Địa Số, Thiên văn Vận khí học, và Kinh Dịch Bát Thuần Khảm – Khôn.



Thứ Năm, 28 tháng 11, 2024

Thư trả lời của Hậu học Quảng Kiến về: Thật đức và hư đức của các pháp




Thưa Thầy,


Trong bộ luận Đại Trí Độ, có nói về hai phương diện của một pháp: “sở hữu tính” (tính riêng biệt) và “tột sở hữu tính” (tính phổ quát, bản thể tối hậu). Cũng vậy, các kinh Duy Thức và Lăng Già dạy rằng, “tự chứng phần” của mỗi chúng sinh là riêng biệt, tốt xấu tùy theo nghiệp duyên huân tập. Tuy nhiên, "bản thể chân thật không” - lại đồng nhất nơi tất cả. Đây chính là ý nghĩa của “Duy Thức Tính”, cũng là “tột sở hữu tính” mà Bồ-tát Long Thọ đề cập từ trong bộ Bát Nhã.


Ví như nước có tính ướt, lửa có tính nóng - đó là “sở hữu tính”. Còn "tột sở hữu tính", tức tính chân không, là điều mà kinh Lăng Nghiêm giảng:


“Tính thủy chân không, tính không chân thủy;

Tính hỏa chân không, tính không chân hỏa.”


    Đây là nghĩa sâu của lý “không”, mà Thầy cần quán chiếu kỹ lưỡng hơn để nhận ra đạo lý viên dung trong pháp giới.


    Nay xin bàn chi tiết về thật đức và hư đức của ngũ hành (Kim, Hoả, Mộc, Thổ, Thuỷ). Thật đức hay hư đức chính là cảnh giới mà mỗi người cảm nhận tùy theo nghiệp thức. Từ tướng phần (cái được thấy) thông qua kiến phần (cái thấy) mà hình thành tự chứng phần (cái biết riêng của mình) – tức là cái “ngã” của mỗi chúng sinh. Cái ngã này, tùy theo chủng tử huân tập nơi A-lại-da thức, chiêu cảm ra cảnh giới tốt hoặc xấu.


Thật đức là pháp thuận duyên, giúp tăng trưởng quả thiện. Ngược lại, hư đức là pháp trái duyên, khiến nhân thiện gặp trở ngại, hoặc dẫn đến quả xấu. Như vậy, tốt hay xấu không nằm ở pháp, mà ở cách vận hành của các pháp trong sự tương tác nhân quả. Đây cũng chính là ý nghĩa của “bất cấu bất tịnh” trong Bát Nhã.


Cụ thể:

• Thuỷ biểu hiện tín và bất tín, hình thái là hãm hoặc tụ.

• Hoả biểu hiện trí và ngu, thật đức là tráng lệ, hư đức là trống rỗng.

• Địa biểu hiện nhân và bất nhân, thật đức là thuận, hư đức là nghịch.

• Kim biểu hiện nghĩa và bất nghĩa, thật đức là kiện (mạnh), hư đức là nhược (yếu).

• Mộc biểu hiện lễ và bất lễ, trạng thái là linh động hoặc trì trệ bất hòa.


Ngũ hành thuộc về ba đại trong bảy đại mà Đức Thế Tôn giảng trong kinh Thủ Lăng Nghiêm: Địa đại, Thuỷ đại, Hoả đại. Trong Địa đại có ba yếu tố: Thổ, Kim, Mộc. Tiếp đến là Không đại (là vô tướng của ngũ hành) và Phong đại (sự vận động của ngũ hành). Hai đại cuối là Kiến đại và Thức đại, thuộc về tâm pháp, 5 đại trước thuộc về sắc pháp.


    Người tu, khi bắt đầu cần thấu rõ bản chất, tính, tướng, dụng, của ngũ hành, tiến lên quán thông bảy đại, dần đạt đến viên thông pháp giới. Theo kinh Viên Giác, ba đại đầu giúp phá ngã chấp nơi sắc pháp, còn bốn đại sau phá pháp chấp nơi tâm pháp. Đây chính là mục tiêu tối hậu của sự tu tập – vượt thoát cả tướng hữu vi lẫn vô vi, đạt đến chân như bình đẳng.


Lời lẽ nơi đây khó trọn ý, mong Thầy quán xét thêm và chúng ta sẽ cùng nhau bàn rộng hơn vào dịp khác.


Kính bút.

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2024

Thiền Dục giới (Luân Xa)

1. Thiền Dục giới:

(Thiền dục giới là thiền ở các cõi còn ái dục như người, trời, thần, quỷ )

Là các phép tu luyện như ăn kiểu riêng, uống kiểu riêng, chế thuốc bổ kiểu riêng, luyện tâp bùa chú riêng... nhằm mục đích có các phép thần thông ở Dục giới. Trong các phương pháp ấy, hiện nay phổ thông nhất là phép tu luyện Luân-xa. Luân xa là các huyện đạo trên cơ thể người. Tất cả có 12 luân xa tương ứng với 12 giờ trong một ngày trên cơ thể. Luyện khai mở Luân xa chủ yếu là các huyệt ở phía trước cơ thể, có 7 luân xa gồm: 

- Luân xa số 1 gọi là huyện Hội âm, thành tựu hay gọi là khai mở thì đắc phép Thần Túc Thông.

- Luân xa số 2 là huyện Đan Điền (cách rốn 2 đốt ngón tay ) khai mở được luân xa này thì đắc phép Túc mệnh Thông.

- Luân xa số 3 là huyệt Đản Trung (giao giữa ngực và hai núm vú ), khai mở được thì thành tựu phép Tha tâm thông.

- Luân xa số 4 là huyệt Thiên Đột (ở hõm cổ ) thành tựu thì sẽ đắc pháp Thiên Nhĩ Thông.

- Luân xa số 5 là huyệt Ấn đường (giao giữa hai lông mày và sống mũi ) khai mở huyệt này đắc phép Thiên Nhỡn Thông.

- Luân xa số 6 là Huyệt Cự Khuyết (ngay lỗ rốn ) Khai mở được luân xa này thì hỗ trợ tăng thêm cho phép Thần túc Thông.

- Luân xa số 7 cuối cùng là huyệt Bách hội (giao giữa hai lỗ tai và đường đỉnh đầu chính giữa) thành tựu Túc Mạng Thông.

Việc tu luyện khai mở 7 luân xa này nếu ăn thịt uống rượu và ăn hành tỏi hẹ kiệu là ngũ vị tân thì sẽ bị mắc sai lầm mà người ta thường nói đùa là " tẩu hoả nhập ma", cụ thể sẽ mắc bệnh hoang tưởng hoang đường, lúc nào cũng tưởng mình là thần là thánh cuối cùng sẽ chết vì hoang tưởng đó, bệnh thứ hai là bị kích thích dâm dục quá độ thành ra cuồng loạn dâm.

                  Trong các bộ kinh Trung bộ, trường A hàm, tăng nhất A hàm, Tạp A hàm và các bộ kinh Đại Thừa Đức Phật có kể lại câu chuyện có một nhóm người tu khai mở luân xa thành công đã bay được trên trời, thế nhưng một số ông tiên (Ấn độ gọi là các vị thuật sỹ) có dặn rằng: Khi đang luyện các phép bay trên trời thì đừng sinh tâm tham tài sắc danh thực thuỵ là ngũ dục thế gian, nếu sinh ra sẽ bị mất phép thần thông. Ví dụ vào đời quá khứ có ông Vua bắt tất cả các cung nữ khoả thân múa cho ông ấy xem, ông ấy vỗ tay có vẻ sung sướng lắm. Lúc bấy giờ có một đoàn người đã luyện tập bay được trên trời là đã thành tựu phép mở luân xa Thần túc thông. Bay qua đó sinh tâm thèm khát ái dục lập tức bị mất phép thần thông ngã từ trên cao xuống nặng thì bể đầu chết nhẹ thì gãy hết chân tay tàn phế. 

                  Đó là cái đau khổ thứ nhất của thần thông dục giới là phép khai mở luân xa. Hiện nay bên Tây tạng gọi phép luyện này là "suối nguồn tươi trẻ". Cái đau khổ thứ hai là sinh ra loại người tu khổ hạnh khoả thân trần truồng đi ăn xin, bọn này gọi là phái tu Ni can đa, thuộc lục sư ngoại đạo. Vì trần truồng nên suốt đời bị ruồi muỗi rắn rết đốt nên rất nhiều người bỏ mạng oan uổng hoặc bị thương tật hoá thành bệnh thần kinh.

                  Đó là hai cái đau khổ của thiền định Dục giới.

                  Đức Phật có nói: thân chúng sinh đã bất tịnh thì các luân xa cũng bất tịnh như thân chúng sinh. Tại làm sao lại dựa vào cái uế tạp để tu luyện. Dù có thành tựu thì khi cái thân tan rã thì cái thần thông đó ko còn chỗ dựa cũng mất theo đến đời sau lại phải tu luyện lại từ đầu. Gọi là cực kỳ dại dột. Cũng như luyện nhân điện, có người cũng biết được chuyện này chuyện kia ở tương lai. Có ngươi bị sét đánh, sau khi bị sét đánh thì có luồng điện trong người thì biết được một số chuyện nhưng phải chịu một số bệnh, hoặc là mù loà, hoặc là ốm yếu. Bình thường thì bị bệnh thần kinh, thỉnh thoảng nói ra được một số chuyện người ta nghe người ta thích thì người ta cho ít tiền đồ ăn nhưng suốt đời nghèo khổ có cuộc sống không bình thường, thậm chí mù mắt như bà Vanga người Bungary. Như vậy luyện năng lượng cũng là một phép luyện luân xa, được thì ít mất thì nhiều. Phật dạy những người như vậy là vô cùng dại dột, cực kỳ ngủ si.

                                    Trên đây gọi là phép tu thiền định Dục giới, trong kinh Thủ lăng nghiêm thuyết là 10 phép tu tiên. Phép tu dựa trên sự giả dối của các huỵệt đạo luân xa thì cái quả cũng là giả dối. Mà giả dối là đau khổ.

...còn tiếp...

Phần 2 ( Thiền sắc giới)


(Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng)