Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

KINH KIM CƯƠNG

Kim Cương bộ phá tà

Năng đoạn ngũ-ấm ma

Tà ma từ tâm cả

Năng đoạn tưng-tâm ta


(HhQK)


Đệ nhất nghĩa của Kinh là quan trọng hơn hết vì từ cái hiểu rõ mà thực hành đúng.

Cốt lõi của kinh Kim Cương là nói về 4 cái tướng giả dối:

1 - Thân là tướng giả dối 

2- Tâm là tướng giả dối

3- Ngã là tướng giả dối

4- Pháp là tướng giả dối ( mọi sự mọi vật )

Biết 4 tướng này là giả dối thì cái gì là thật? Đó là sức mạnh vô hình của tâm là thật, khi đã thành Phật cái Tâm này gọi là Như Lai, đắc đạo gọi là Vô thượng chính đẳng chính giác. 

Như vậy Kinh Kim Cương nói đến 4 cái giả và một cái Tâm thật là Như Lai. Như là trước sau vẫn thế không bao giờ thay đổi, Lai là quay lại cõi đời ( lục đạo luân hồi ) để giáo hoá chúng sinh. Quay lại gọi là Lai, trước sau không thay đổi cái tâm chân thật ấy gọi là Như. 

Khi đã đắc đạo rồi thì “ Như lai giả tòng vô sở lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai” nghĩa là tâm chân thật khi đã đắc đạo thành Phật thì không phải đi đâu, không phải về đâu. Đi về của chúng sinh là theo quả báo ( nghiệp lực ), khi đắc đạo thành Phật thì đã hết tất cả các quả báo tốt xấu thì không có ai, nghiệp lực ma quỷ thần thánh nào bắt mình phải đi đến nơi đâu ngoài cái nguyện của mình, đi hay không là do mình quyết định. Dụ như khi còn nợ tiền thì phải đến trả, khi cho người vay mượn thì mình phải đi thu tiền về. Chúng sanh thì nợ nhiều thứ từ tiền, ân, oán, danh dự, nợ tình cảm, nợ tính mạng… nên phải đến rồi đi để trả để lấy trong vòng luân hồi. Cho nên tu hành là mình đừng có nợ ai và cũng đừng bắt ai phải nợ mình. Khi hết nợ thì tâm mới Như Lai.

“Vô sở lai: là không cần có chỗ quay lại, Vô-sở-khứ: là không cần có chỗ đi” gọi là Như Lai

Kinh có nói “ Như Lai chẳng phải Như Lai mới gọi là Như Lai ”. Đấy là cách nói, hình tướng là giả, còn bản chất ( bản thể ) là thật. Chẳng-phải-là là tướng giả dối, gọi-là là thể chất chân thật. 

“Phật bảo Ngài Tu-bồ-đề: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai”, có nghĩa thấy các tướng chẳng-phải-tướng, nghĩa là thấy được tướng giả dối thì nhận diện được cái Tâm chân thật đó là Như Lai.

“ Hàng-phục-tâm” là nhận diện tướng giả dối ( thân-tâm-ngã-pháp )

“ An trụ tâm” là sống với tâm chân thật không-đến- đâu, không-về-đâu là tâm Như Lai. Không bị cảnh thức ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ) làm cho não loạn.

“ Ưng vô sở trụ, Nhi sinh kỳ tâm” là tâm không theo các tướng giả dối thì Tâm sẽ tự tại đến đi ( tâm Như Lai )

( Hậu học Quảng Kiến )

Còn nữa…

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022


















KIẾN TRÚC  CHÙA DIÊN KHÁNH


Thoại đầu “em” hợp rồi tan

Bóng Chân lý kết lại tàn theo hương

Hoá ra, “em” vốn vô thường

Hoá ra, “em” để cúng dường Pháp thân.

Chuông chùa không đánh mà ngân

Vô vi tịch tĩnh cũng ngần ấy thôi!


Bàn về một công trình kiến trúc là nói đến sự kết hợp giữa nghệ thuật và kỹ thuật. Nghệ-thuật sáng tạo ra hình khối không gian còn kỹ-thuật  vật chất hoá những sáng tạo đó. 

Tiếp theo chuỗi bài viết chiêm nghiệm Phật học «  Từ Tướng tới Tính – Biểu tượng của giác ngộ » chúng tôi xin giới thiệu ý niệm sâu xa của việc ứng dụng giáo lý Phật đà vào xây dựng kiến trúc công trình nhà Tổ chùa Diên Khánh, ngõ hầu giúp độc giả phần nào thông qua « Tướng » trải nghiệm để nắm bắt « Tác-Dụng » rồi từ đó mà thông tỏ « Thể tính » thì cũng là rõ bản hoài của chư Thầy Tổ trong việc tôn tạo cảnh chùa, xây dựng đạo tràng, làm phương tiện để dẫn dắt chúng ta trên con đường tu đạo vô thượng. 

Khái niệm «Thể-Dụng-Tướng-Tính» là chư pháp thật tướng trong kinh Pháp Hoa, nói về vạn hữu trong pháp giới đều có hình TƯỚNG kết hợp với TÍNH chất thành ra THỂ. Thể có ảnh hưởng tạo ra tác dụng là DỤNG, Dụng này có sự tương tác ra xung quanh là TÁC. Tác có lực nhất định gọi là LỰC. Lực này tạo ra kết quả là QUẢ. Quả có cái đối ứng lại gọi là BÁO. Tất cả có sự kết hợp như vậy gọi là DUYÊN. Duyên nào cũng có nguyên nhân là NHÂN. Nhân đều có nguồn gốc là BẢN. Tất cả đều có duyên khởi trùng trùng gọi là MẠT ( cành lá rễ...). Phần thập như thị ( TƯỚNG, TÍNH, THỂ, TÁC, LỰC, QUẢ, BÁO, NHÂN, DUYÊN, MẠT, BẢN) nói về tính thường trụ của vạn pháp, gọi là "chư pháp thật tướng" 


Quán chiếu việc xây dựng các hạng mục kiến trúc Chùa như Tam Bảo, Nhà Tổ, Pháp đường, Tam quan, Trai đường, Tăng xá, Tẩn xứ…Bảy hạng mục chính này là hình-tướng kiến trúc làm phương tiện phục vụ cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh. Dưới góc nhìn « Thập như thị » tư tưởng ứng dụng ý niệm từ hình khối kiến trúc và mỹ thuật Phật giáo vào công trình nhà Tổ chùa Diên khánh thuộc về phần Tính. Việc xây dựng trang trí nội ngoại thất thuộc phần Tướng. Quá trình hoạt động chung thuộc về Lực-Tác-Quả-Báo-Nhân-Duyên-Mạt-Bản. Cụ thể các phần như sau :


Phần Tính chất

Tính chất của công trình nhà Tổ chính là ý niệm về việc tạo ra công trình với không gian trang nghiêm, thể hiện sự tịch mặc,  nơi tôn nghiêm, tôn trí hình tượng của Tổ để hàng đệ tử và Phật tử thập phương chiêm bái tưởng tới ơn đức hoá độ và công hạnh của chư Thầy Tổ để noi gương trên con đường tu đạo. Song song với các không gian chính đó, kiến trúc nhà Tổ chùa Diên Khánh còn có thêm không gian giảng pháp và không gian làm việc của ban trị sự.


Phần hình Tướng

Hình tướng công trình nhà Tổ gồm hình khối kiến trúc và hoạ tiết mỹ thuật trang trí. Công trình sau khi hoàn thành đã thể hiện được sự sáng tạo lớn trong việc kết hợp các không gian kiến trúc truyền thống với công nghệ hiện đại trong chế tác và tạo hình mỹ thuật. 

Việc bảo tồn và tuân thủ các giá trị kiến trúc của hệ cột, vì và mái đao truyền thống. Kiến trúc sư đã xử lý hài hoà theo ý tưởng của Thầy trụ trì về việc nâng không gian thờ tự lên cao và biến phần cơ đài (phần đế) thành không gian đa năng phục vụ cho việc giảng pháp và các chương trình Phật sự khác nhau. Để đáp ứng cho việc tập trung số lượng lớn Phật tử trong các sự kiện, giải pháp kết cấu công trình ứng dụng cấu trúc nhịp lớn, xử lý kiến trúc cột tạo ra không gian tránh bị vướng tầm nhìn. Đây cũng là ý niệm sự thuần chất và không còn vướng mắc trong đạo pháp.

Về hoạ tiết kiến trúc ngoại thất, công trình sử dụng hệ đố củng, được cách tân theo tỷ lệ và màu sắc của kiến trúc Việt Nam. Hoạ tiết mỹ thuật này thường được sử dụng trong kiến trúc Mật giáo, với ý niệm về các lớp cánh sen nâng đỡ lẫn nhau đương nở rộ. Soi chiếu ngược về thân tâm chúng ta sẽ cảm nhận được nhân quả tương tục trong tiến trình giác ngộ của chính mình.

Về mỹ thuật, trang trí nội thất ở công trình nhà Tổ chùa Văn Giang đã được định nghĩa lại hoàn toàn. Trần nhà bây giờ được cấu thành từ vật liệu hiện đại, gia công bởi công nghệ siêu chính xác CNC. Do không còn giới hạn về tạo tác thi công nên nội thất nhà Tổ bây giờ chính là không gian truyền thông hay nói đúng hơn việc chiêm ngưỡng và quán tưởng vào hình ảnh của Mandala với trung tâm là các chủng tử tự Om Mani Padme Hum (  ảnh minh hoạ trần) chính là những bài pháp thâm sâu. Cụ thể hình ảnh chữ OM tượng trưng cho Phật bộ, MANI tượng trưng cho Bảo bộ tức tai pháp, Padme tượng trưng cho Liên hoa bộ kính trọng pháp, Hum là kim cương bộ phá tà hiển chính. Việc quán tưởng về ý nghĩa của chủng tử hay ý niệm về Bản tôn sẽ giúp hành giả thâm nhập sâu vào pháp giới thể tính trí, đại diện bởi hình tượng đức Phật Đại Nhật được tôn trí ở trung tâm Mandala.  


Phần Dụng-Lực-Tác-Quả-Báo-Nhân-Duyên-Mạt-Bản

Phần Tính chất kết hợp với hình tướng thành ra Thể. Nhà Tổ chùa Diên Khánh đã tạo ra diện mạo công trình mới mà không mới. Mới ở đây là sự kết hợp sáng tạo Đông-Tây giữa lý tưởng Phật pháp thâm sâu và công nghệ hiện đại. Không mới là sự phù hợp với cảnh quan, đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tâm linh của đông đảo quần chúng nói chung và đặc biệt với các pháp tử tu theo pháp môn Mật giáo nói riêng, phần này thuộc về Dụng.

Việc quy hoạch thiết kế và xây dựng cảnh chùa xét về mặt điển hình từ xưa tới nay, thông qua trục chính-đạo, được định vị bởi các công trình từ Tam quan đến Toà tam bảo và Nhà Tổ. Các hạng mục công trình phụ trợ khác tuỳ theo địa hình thế đất mà sắp đặt cho phù hợp. Việc tổ chức như vậy chính là môi trường giúp chúng ta mỗi khi vân tập về chùa có được sự thanh tịnh trang nghiêm toả ra từ hình khối kiến trúc và hoạ tiết trang trí mang đậm bản sắc Phật giáo, Sở-duyên-duyên này là cái duyên môi trường nuôi dưỡng và huân tập thiện pháp. Để rồi từ đó với chính Nhân là Phật tính thường trụ, chúng ta tu dưỡng ngay trong các nỗi khổ niềm đau của mình bằng sự ứng dụng giáo lý Phật đà vào thực tại đời sống, để cho mỗi mỗi hành động, mỗi mỗi ý niệm được thanh tịnh là Quả-Báo chân thật, đó là cội nguồn phát xuất niềm an lạc trong mỗi sát na sự sống, rồi với hạnh Đại thừa chúng ta chia sẻ, dẫn dắt kẻ hậu học để cùng tiến lên trong tương lai gần và làm tư lương cho chuỗi đời vô tận. Việc suy tư và đầu tư vào công trình nhà Tổ chùa Diên Khánh về dụng ý tối hậu chính là phương tiện để tạo ra Lực-Tác-Quả-Báo-Nhân-Duyên-Mạt-Bản như vậy.



 Tiểu kết

Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm Kinh, phẩm Nhập pháp giới nói về cảnh Thiện Tài đồng tử vấn đạo vị thiện tri thức ở thành Sư Tử Phất Tấn, trong điện Tỳ Lô Giá Na Tạng. Sau khi phát tâm Bồ đề, được Bồ Tát Văn Thù khuyến tấn trên con đường sam đạo từ các vị thiện tri thức, học Bồ Tát hạnh và tu Bồ tát đạo để thành Bồ đề quả. Ở điện Tỳ Lô Giá Na tạng ngài được Từ Hạnh đồng nữ Bồ tát giới thiệu pháp môn Bát nhã Ba la mật phổ trang nghiêm là sở đắc của Bồ tát từ ba mươi sáu hằng sa chư Phật. Cốt yếu của pháp môn này là mỹ-thuật-hoá-Phật-giáo. Việc quán sát hình ảnh khắp cung điện, từ trần vách, cột… »mỗi tướng mỗi hình đều hiện pháp giới Như Lai từ sơ phát tâm tu hạnh Bồ tát thành mãn đại nguyện, đầy đủ công đức, thành Đẳng Chính Giác, chuyển diệu Pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập Niết Bàn. Tất cả ảnh tượng như vậy đều hiện rõ cả. Như trong nước thanh tịnh đứng lặng, thấy khắp hư không nhật nguyệt tinh tú… » Do từ công phu quán tưởng ảnh tượng đó mà Bồ Tát tuỳ thuận xu hướng tư duy quán sát ghi nhớ phân biệt liền được phổ môn đà la ni, trăm vạn vô số môn đà la ni đều hiện tiền.

Như thế mới rõ, việc ứng dụng và Phật hoá mỹ thuật trong các công trình thuộc đạo tràng Chân tịnh Chùa hương, đặt biệt ở nhà Tổ chùa Diên Khánh là những bài pháp vô ngôn trợ duyên và giúp chúng ta tu để chứng Phổ môn Đà la ni. Hình tượng về điện Tỳ Lô Giá Na Tạng nói lên ý niệm về pháp môn mật thừa với Bản Tôn là Phật Tỳ Lô Giá Na ( Phật Đại Nhật ) mà hình ảnh và các biểu tượng chủng tử tự, ẩn chứa sắc nét trong từng hoạ tiết mỹ thuật kiến trúc nhà Tổ chùa Diên Khánh.

Vào đêm Đông không lạnh, nhân duyên dạo bước kinh hành trong dãy nhà Hữu vu chùa Diên Khánh, ngắm nhìn từng hòn đá, ngọn cỏ dưới ánh trăng thanh. »…tiếng chuông chùa không đánh mà ngân… » đã đưa chúng tôi vào sự tịch mặc, thông qua khoảng trống hình tròn giữa bức tường kết nối với công trình Tam Bảo, nhà Tổ hiện ra lúc-có, lúc-không trong từng góc nhìn sai khác, như-có, như-không trong từng  vị trí sai khác. Cái nghĩa Có-Không này xin hãy một lần tới chiêm bái để được thấy và biết.


Vạn pháp bản lai chẳng có-không

Có chăng thế tục nợ đèo bồng

Không là không tướng ta cần rõ

Diệu hữu, Chân Không vốn vẫn đồng.


Bài thơ viết tại chùa Diên Khánh nhân dịp về chùa vấn an Thầy :


Đêm Đông chùa vẳng, tiếng chuông ngân

Sóng ánh trăng thanh, cảnh sáng ngần

Ngọn cỏ đầu sương bừng tỉnh ngủ

Tháp vương đỉnh bạc chiếu xa gần

Tâm thôi tục luỵ trần không vướng

Vạn tượng sum la hiển pháp thân

Ai rõ Chân Không và Diệu hữu

Vô vi cảnh giới mới thêm phần.


(Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng)












 6




Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2021

Kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm:












KINH HOA NGHIÊM



Bồ tát và đại Bồ tát tu Đại thừa 2 A tăng kỳ kiếp có 10 hạnh và 10 thánh quả như sau:

1-    Tu Bố-thí Ba la mật đắc đạo quả Sơ địa gọi là Hoan-Hỷ-Địa thứ nhất
2-    Tu Trì-giới Bồ tát Ba la mật đắc đạo quả Ly-cấu-địa là Nhị địa thứ 2
3-    Tu đạo quả An nhẫn Ba la mật đăc đạo quả Diệm-tuệ-địa là tam địa thứ 3
4-    Tu hạnh Tính Tiến Ba la mật đắc đạo quả Nan-thắng-địa là tư địa thứ 4
5-    Bồ tát tu Thuyền định Đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Phát-Quang-Địa thứ 5
6-    Bồ tát tu Trí-tuệ Đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Hiện-tiền-địa thứ 6
7-    Bồ tát tu Đại-Nguyện Ba la mật đắc đạo quả Viễn-hành-địa thứ 7
8-    Bồ tát tu Đại-lực Ba la mật đắc đạo quả Bất-động-địa thứ 8
9-    Bồ tát tu Đại-Trí đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Thiện-tuệ-địa thứ 9
    10- Bồ tát tu Đại-phương tiện Đại thừa Ba la mật đắc đạo quả Pháp-Vân-địa 
Tiếp theo:
1.    Bồ tát nhập Kim cương địa tối thượng thừa thứ nhất trừ vi tế diệt tướng Vô minh và trừ vi tế dị tướng vô minh đắc đạo quả Đẳng-giác tối thượng thừa.
2.    Bồ tát tu Kim cương địa tối thượng thừa trừ trụ tướng vi tế vô minh đăc đạo quả Diệu-giác tối thượng thừa.
3.    Bồ tát tu Kim cương địa tối thượng thừa trừ vi tế sinh tướng vô minh đắc đạo quả Viên Giác tối thượng thừa.
            Sau đó thị hiện thuyết pháp độ cho các vị Bích Chi, A la hán, cõi trời sắc giới, vô sắc giới và cõi người. lại thị hiện thành Phật có 32 tướng và 80 vẻ đẹp, chế ngự Ma vương Ba tuần, rồi thị hiện thành Phật tức vô thượng chánh đẳng chính giác dưới gốc cây Bồ Đề, Long hoa… thuyết pháp tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa độ tất cả chúng sinh gọi là chuyển pháp luân.
Tiếp theo:
            Chuyn Pháp luân là nói rõ nhân tu, qu tu, duyên tu ca 10 pháp môn đại tha nói trên, như sau:
1.     Tu nhân Bố thí thì có cái duyên trừ được san-tham, san là keo kiệt, tham là tham danh tham tiền tham chức sẽ được cái quả là hoan hỷ địa thứ nhất nói trên. Hoan hỷ địa là hoan hỷ bố thí hoan hỷ với người nhận bố thí không có một chút gì cho mình là hơn, cho người nhận bố thí là kém tức là không chấp mình là năng thí, người nhận là sở thí như vậy gọi là bố thí Ba la mật đến bờ giác ngộ bên kia là đạo quả Đại thừa này.
2.     Tu hạnh trì giới Đại thừa là giới Bồ tát có 10 giới trọng chủ yếu là không sát sinh mà phóng sinh, không trộm cướp mà bố thí, không tà dâm mà giữ hạnh chung thủy vợ chồng, không nói dối mà nói lời chân thật, không uống rượu say và không bán rượu cho mọi người, không bịa đặt vu cáo mọi người, không chửi mắng nguyền rủa mọi người, không đánh đập người và súc sinh và không nghe lời dạy và tu các phép của ngoại đạo là thường kiến thượng đế và đoạn diệt kiến thế tục. Nhờ các duyên đó đắc đạo quả Ly-cấu-địa thứ 2. Trong khi trì giới Bồ tát, ko chấp minh là người trì giới, không gét bỏ những kẻ phá giới mà chỉ cho họ biết phá giới là đau khổ thì gọi là trì giới Ba la mật. Tức là trừ bỏ mọi sự phóng túng và mọi sự nhút nhát.
3.    Tu hạnh kiên nhẫn tức là an tâm kiên trì khi tu đạo có cái duyên là vui vẻ khi nói chuyện với chúng sinh dù chúng sinh có ngang ngạnh cũng không cáu giận với chúng sinh thì đắc quả Diệm-tuệ-địa thứ 3. Có nghĩa là đã có ánh sáng trí tuệ Đại thừa bừng sáng lên nơi tâm của người tu hạnh này. Trong khi tu hạnh này ko chấp mình là người năng nhẫn, ko chấp kẻ ác gây chướng ngại cho minh là sở nhẫn thì gọi là An nhẫn Ba la mật.
4.    Tu hạnh tinh tiến tức là cái việc thiện đã làm thì phải làm thêm, cái việc ác chưa làm thì không bao giờ làm thì đắc quả Nan thắng Địa thứ 4. Lúc đó không chấp mình là người tinh tiến, không chấp kẻ ngăn cản mình thì gọi là tinh tiến Ba la mật.
5.    Tu các phép tư duy Đại thừa gồm có suy nghĩ giáo pháp đại thừa, quyết định như thế không bao giờ thay đổi thì gọi là thiền định Đại thừa. Trừ bỏ mọi sự tư duy tán loạn thì đắc quả Phát quang địa thứ 5 phá tan các tư duy ác của chúng sinh, phá tan các tư duy lệch lạch của An la hán tiểu thừa. Không chấp mình là người tu thiền định đại thừa, không chấp kẻ gây tán loạn khi mình tu thiền định đại thừa thì gọi là thiền định Ba la mật.
6.    Người tu Đại thừa nghe pháp Đại thừa phát ra sự thông suốt sáng tỏ khi hiểu pháp đại thừa thì gọi là văn tuệ đại thừa, suy nghĩ giáo pháp Đại thừa thì gọi là Tư tuệ giáo pháp Đại thừa, thực hành đại thừa có kết quả tốt thì gọi là Tu tuệ Đại thừa. Có duyên để phá hết sự si mê của chúng sinh, có duyên phá cái chấp lệch lạc của A la hán tiểu thừa. Chấp lệch lạc này là cứ phải đi tu mới đắc quả A la hán tiểu thừa thì đắc quả hiện tiền địa thứ 6. Lại không chấp mình là người có trí tuệ kẻ khác là người ngu si thì gọi là Bát Nhã Ba la mật thứ 6.
7.    Tu hạnh Bồ tát đại thừa nguyện cứu độ chúng sinh và mình, tương lai đều đắc quả thành Phật đều thấy được Phật tính của mình đã chót bỏ quên từ lâu đời kiếp, trừ bỏ cái duyên do dự dở giang tức là cái duyên tự cho mình là hèn kém, cho chúng sinh là nhiều tội ác, mà phát nguyện lớn đó thì đắc quả Viễn hành địa thứ 7. Lúc đó không chấp mình là người phát đại nguyện đại thừa, ko chấp chúng sinh là người có độ, có cứu, không chấp A la hán tiểu thừa là người do dự giở giang thì gọi là Đại nguyện Ba la Mật.
8.    Tu Bồ tát Đại thừa phải tạo cho mình một cái lực vững chắc không sợ chướng ngại, không rút lui khi thấy chướng ngại, khi bị chúng sinh công kích, khi bị A la hán tiểu thừa chê bai thì gọi là Đại lực Ba la mật thứ 8. Tức là Bất động địa thứ 8.
9.    Bồ tát tu Đại thừa thấy chúng sinh dại dột tham ngũ dục lục trần cho đến lúc mất hết cả trí khôn thì kiên trì giáo hóa chúng sinh, chỉ rõ cho chúng sinh biết trí tuệ là để làm việc thiện, không bao giờ dùng trí tuệ để lừa gạt giết hại lẫn nhau, không bao giờ trùng trí tuệ chế tạo ra vũ khí giết người giết vật, thì đắc quả Thiện-tuệ-địa thứ 9. Lúc đó không chấp mình là người có thiện tuệ, không chê bai chúng sinh là ác trí ác tuệ, không chê bao A la hán tiểu thừa là trí tuệ lệch lạc thì gọi là Đại trí Ba la mật.
10.  Bồ tát tu Đại thừa thấy chúng sinh căn cơ khác nhau, thấy tiểu thừa A la hán cố chấp chỉ biết có cái vui riêng của mình mà không độ chúng sinh thì phải nghĩ ra mọi cách, tức là nhiều phương tiện để giáo hóa nhiều loại chúng sinh, giáo hóa những A la hán phải biết cứu độ chúng sinh, không ích kỷ hưởng vui một mình thì đắc quả Pháp Vân địa thứ 10. Lúc đó không chấp mình là người có nhiều phường tiện cứu độ, không chê bai chúng sinh có nhiều mê lầm, không chê bai tiểu thừa A la hán có nhiều lệch lạc thì giọi là phương tiện Ba la mật thứ 10.
            Phương tiện này phải biết lúc thuyết pháp phải thuyết đúng căn cơ, thời gian, địa điểm, phai thuyết đúng giáo pháp Đại thừa mới thành tựu viên mãn phương tiện Ba la mật này. Không có một chút sơ sở thì gọi là phương tiện Thiện Vô lậu Đại thừa Ba la mật.
            Sau đó Bồ tát Pháp Vân địa thứ 10 này nhập Kim cương Đạo tối thượng thừa thấy rõ Diệt tướng vô minh là cái vô minh vi tế thấy các pháp tướng sinh diệt liên tục trong thời gian ngắn gọi là sát na thì giác ngộ các pháp tướng này, sinh là giả tướng sinh, diệt là giả tướng diệt, thì trừ được vi tế diệt tướng vô minh, lại thấy tướng của các pháp lúc thì giống nhau lúc thì khác nhau, mà hiểu được khác nhau hay giống nhau là sự thay đổi tạm thời biến hóa, thì trừ được cái khác với cái giống là dị tướng vô minh vi tế và đắc quả Đẳng giác Bồ Tát thứ 11.
            Đẳng giác Bồ tát thấy các pháp tướng lúc thì trụ vững chắc, lúc thì yếu là nghiêng ngả, phá cái chấp trụ chấp yếu thì được vô-sở-trụ, trừ được trụ tướng Vô minh và đắc quả Diệu Giác Bồ tát thứ 12.
            Diệu Giác Bồ tát thấy Pháp tướng sinh biến hóa vô cùng, biết rõ cái sinh là tướng vi tế vô minh, sinh tướng giả dối, trừ được cái sinh tướng vi tế vô minh giả dối thì đắc quả Viên Giác Bồ tát thứ 13 gọi là Nhất sinh Bổ xứ Bồ tát.
            Ví dụ đức Từ Thị Bồ tát là nhất sinh bổ xứ, khi chúng sinh thọ 8 vạn tuổi thì xuất hiện gọi là Từ thị siêu thắng Bồ tát.
            Khi Nhất sinh thấy chúng sinh đủ duyên hóa độ thì thị hiện đản sinh, xuất gia tu đạo, thị hiện chế ngự ma vương đắc đạo thành Phật, đó gọi là Vô thượng chính đẳng chính giác là đạo quả tối thượng thừa thứ 14. Vô thượng là ko có cái gì có thể hơn. Chính đẳng là sự bình đẳng tuyệt đối. Chính giác là sự giác ngộ tuyệt đối, gọi là Phật. Một đức Phật có các danh hiệu sau đây:
            1. Như Lai là hòan tòan thấy rõ Phật tính của mình đã bỏ quên từ trước đến nay, dù là chúng sinh Phật tính không giảm đi, khi đắc đạo thành Phật Phật tính không tăng thêm gọi là Như, nhưng luôn luôn xem xét chúng sinh có thể giác ngộ thì quay lại giáo hóa chúng sinh ở cõi trời cõi người gọi là Lai.
         2. Nếu chúng sinh nào Lễ Phật niệm Phật làm theo hạnh của Phật thì gọi là cúng Phật thì là danh hiệu thứ hai là Ứng cúng.
         3. Chính biến tri là cái biết ngay thẳng gọi là chính, hiểu tòan diện gọi là biến, hiểu biết tất cả mọi căn cơ của chúng sinh, hiểu biết căn cơ tiểu thừa A la hán cần phải tiến lên đại thừa gọi là Chính biến tri.
         4. Sự sáng suốt đến đâu thì thực hành đến đấy, lời nói đi đôi với việc làm gọi là Minh-hạnh-túc.
           5. Không bỏ sót một chúng sinh nào nếu chúng sinh đó cầu Phật, để giữ được thệ nguyên ban đầu lúc mới tu thì gọi là Thiện Thệ.
          6. Giải thích mọi mê lầm của chúng sinh, là do tham sân si mạn nghi tà kiến gây ra, thì gọi là Thế Gian Giải là Đại giác ngộ bình đẳng.
          7. Coi chúng sinh là Phật sẽ thành thì gọi là Vô thượng Sỹ.
         8. Chế ngự được cái ngã chấp tướng của chúng sinh là thượng đế tà kiến, trừ bỏ nhút nhát nghi ngờ của đoạn diệt kiến chúng sinh, gọi là Điều ngự trượng phu.
        9. Là thầy giáo của các cõi trời và các cõi người cho đến A la hán tiểu thừa thì gọi là Thiên Nhân Sư.
     10. Tự mình giác ngộ cho mình đắc đạo thành Phật, giáo hóa cho chúng sinh tu đại thừa sẽ thành Phật ở tương lai, thì gọi là Phật, tức là tự giác giác tha giác hạnh viên mãn.
Được chúng sinh tiểu thừa Alahan được trung thừa Bích Chi, được các Đại thừa bồ tát kính mến suy tôn là Thầy giáo lớn, Y vương là thầy thuốc lớn, Pháp vương là thầy chỉ bảo tu các pháp đại thừa chân chính thì gọi là Thế tôn. 
 
            Để phân định rõ ràng cần phải hiểu rõ, tiểu thừa A la hán mới trừ được Ngã chấp tướng, quá trình tu này một vị a la hát tu 50 đại kiếp, mỗi đại kiếp 1280 triệu năm.
            Một vị a la hán bắt đầu hóa độ chúng sinh hiểu được nhân quả thì gọi là Bích chi Trung thừa.
            Một vị tu Đại thừa tu 10 hạnh nói trên, hạnh 13 Diệu Giác là Đại thừa, 14 là Phật gọi là Tối thượng thừa.
Tu từ số 1-8 là A tăng kỳ kiếp thứ nhất, 8-10 là A tăng kỳ thứ 2, 11-14 là A tăng kỳ thứ 3. A tăng kỳ là vô số nghĩa là có giới hạn.
 

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Tối thượng thừa Thiền

 


Bao gồm cả Hiển giáo và Mật giáo. Hiển giáo là các đạo lý dùng ngôn ngữ văn tự để thể hiện. Riêng tiểu thừa, Trung Thừa thì cũng có hiển giáo như Đại Thừa. Nhưng Mật Giáo thì chỉ có Đại Thừa. Vì Mật giáo tuy cũng dùng ngôn ngữ văn tự nhưng là những ngôn ngữ văn tự đặc biệt chỉ có chư Phật với chư Phật mới hiểu hết được hêt ý nghĩa. Ngôn ngữ văn tự của Mật Giáo là tóm tắt tinh hoa đại ý của các bộ khế kinh Đại Thừa bằng những câu chữ tiếng Phạn (shancri), những ngôn ngữ này là tiếng cổ của miền bắc Ấn Độ cách đây khoảng 6000 năm. Cho nên Mật Giáo Đại Thừa cũng chính là tối thượng thừa Thiền Đại Thừa. Ý nghĩa giống nhau nhưng hình thức biểu hiện ngôn ngữ là khác nhau.

Tối thượng thừa Thiền được biểu hiện trong Mật Giáo qua các bài mẫu tự Đa- ra- ni ở hai bộ khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm ( Đại Thừa Viên giáo) và Đại bát Niết Bàn ( Đại thừa Chung giáo và Đại thừa Đốn Giáo). Còn biểu hiện ở khế kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại thừa thông giáo). 

Tối thượng Thừa Thiền được biểu hiện trong hiển giáo qua các bộ khế kinh THủ Lăng Nghiêm, Đại Bát Nhã và Đại bát niết bàn cùng Đại phương quảng hoa nghiêm và nhiều bộ khế kinh Đại thừa khác.

Ở nơi Mật Giáo qua các bộ khế kinh Đại Thừa nói trên thì ý nghĩa tối thượng thừa thiền biểu hiện là: chỉ rõ chúng sinh bản lai từ vô lượng kiếp trước đã có đầy đủ Như Lai trí tuệ đức tướng ( Nhất thiết chúng sinh bản lai cụ túc Như Lai trí tuệ đức tướng) như khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm đã nói. Lại như khế kinh Đại bát niết bàn Đức Phật Thích Ca đã dạy “Nhất thiết chúng sinh bản lai cụ túc phật tính thường trụ bất sinh bất diệt”. Khế kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật Thích Ca cũng dạy “ Nhất thiết chúng sinh bản lai cụ túc viên thông nhị thập ngũ tính thường trụ hiển thị tại nhị thập ngũ viên thông pháp môn”. Tất cả ý nghĩa tối thượng thừa này đều biểu hiện ở ngôn ngữ phẩm Đà la ni mẫu tự ở khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm, Đại bát niết bàn và Chân ngôn Thủ Lăng Nghiêm.

Ở hiển giáo khế kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng chỉ rõ pháp môn viên thông là 25 pháp môn đều nhằm mục đích giúp chúng sinh tu luyện đắc tính viên thông. Tính viên thông này là viên mãn (đầy đủ mọi công đức vô lậu, vô vi). Kiên cố (thường trụ bất sinh bất diệt) và cứu kính (cao siêu đệ nhất cũng gọi là vô thượng). Khế kinh Đại phương quảng hoa nghiêm nói rõ 10 hạnh nguyện của đức Đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát là thật giáo Đại thừa. Chúng sinh nào có cơ duyên Đại Thừa tu 10 hạnh nguyện này thời vị lai sẽ đắc Đạo vô thượng đại Bồ đề đầy đủ tính viên mãn kiên cố cứu kính như kinh Đại phương quảng hoa nghiêm nói. Khế kinh Đại bát niết bàn Đức Phật dạy nếu chúng sinh nào phát tâm tối thượng thừa dù chỉ nghe hai chữ thường trụ mà kính cẩn phụng trì thì đời vị lai cũng sẽ đắc đạo thành Phật viên mãn cái Phật tính thường trụ mà chúng sinh đã sẵn có từ vô thủy kiếp. Khế kinh Diệu pháp liên hoa là đại thừa Chung giáo Đức phật thụ ký cho rất nhiều đệ tử là A La Hán tu theo Đại Thừa sẽ đắc đạo thành Phật ở đời tương lai. Ở đây Đức Phật lại nhắc lại hạnh tu viên thông nhĩ căn của đức Quán Thế Âm Bồ Tát của khế kinh Thủ Lăng Nghiêm qua phẩm Phổ Môn thứ 25 ở đoạn nói hạnh Quán Thế Âm nghe tiếng chúng sinh cầu nguyện, niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm mà thị hiện các thân thế gian và xuất thế gian (32 ứng thân) để đến cứu độ những chúng sinh đó.

( còn tiếp )


Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

ĐẠI ĐỊNH LĂNG NGHIÊM


Vạn hữu sum la thấp với-cao (sắc)
Chuông kêu ngũ ấm Tưởng Hành vào (thọ)
Lăng nghiêm đại định là Chân-định
Chẳng đánh mà ngân, vọng Thức nào!? ... Thức Out= Vô thức= Xả)
-----
- Dòng chảy liên tục của tâm, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh không gián đoạn. Ngay từ sát-na đầu tiên, với sự giao tiếp của căn, cảnh, thức tạo ra hoạt động của cảm thọ ( thập bát giới ). Từ cảm thọ kích phát sự tiếp thu ảnh tượng và khái niệm ( Tưởng uẩn ). Sự tiếp thu này, hình thành xung động tâm lý ( Hành uẩn), vào khoảng sát-na cuối cùng, tâm thức như là chủ thể nhận thức hiện tại, Thức uẩn này quyết định sẽ làm gì sau khi hoàn tất quá trình xử lý đối tượng hay khái niệm nắm bắt được.
- Đại định Lăng Nghiêm là Chân định vì là biểu hiện của Tự-tính-thanh-tịnh-tâm, diệu dụng phổ độ chúng sinh không có chướng ngại.  Rời tất cả các khái niệm, Vọng-thức. Nghĩa là theo duyên mà không đổi, không đổi mà theo duyên.
Thức tâm bản nguyên không có năng sở, do bất giác mà lập ra như có Tính-Minh, khi năng minh và sở minh thành lập. Năng minh không vượt qua được sở minh, sinh ra sự ngăn ngại của tâm thức (Sắc uẩn), có nặng có nhẹ, có lớn có bé...từ một thức tâm lại sinh ra nhiều thức sai khác gọi là chuyển thức hay vọng thức ( hoặc vọng tâm ). 
- Vọng thức là kết quả cuối cùng từ chu trình hoạt động của ngũ uẩn trong 5 sát-na. Khoảng thời gian đủ ngắn để thức sinh ra và diệt không gián đoạn. Kết quả của nhận thức thông thường căn cứ trên thói quen mê lầm của các chủng tử bất thiện lưu lại ( huân tập ) trong Tàng thức, nghĩa là lấy cái này so đo với cái kia, dựa vào nhau hay đối lập nhau mà giả-có. 
Bản chất đó là sự đối đãi phân biệt. Hình ảnh của thực tại thông qua chuỗi nhận thức duyên khởi như thế gọi là các niệm vọng đi vọng lại,  thực tại theo đó mà méo mó, dẫn đến nhận thức sai lầm, tạo ra kết quả phiền não khổ đau trong chuỗi đời sống vô tận. 
- Rời phân biệt là sự xả ly hay Viễn-ly vọng thức, nhận thức cái thấy như vậy gọi là cái thấy Như-Huyễn.
Như Huyễn, Viễn Ly là thật tướng của Bát Nhã. Thật-tướng này kết hợp với Tự-tính thanh tịnh tâm (Chân Định ) cấu thành bản Thể của Chân Như.