Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Phong Thủy Thế Gian đến Xuất Thế Gian


Mạn đàm
Phong Thuỷ từ Thế Gian đến Xuất Thế Gian
(Quảng Kiến Nguyễn Việt Hồng)
"Đời người một trăm tuổi
Mình mới được ba nhăm
               Như vậy
Ngoảnh đi chưa tới nửa
 Ngoảnh lại chửa bao năm"
               Lại thấy
Giàu sang thời do Đức
Chư Phật chẳng để nhầm
               Cho nên
Sướng khổ tùy ý niệm
Việc gì phải lăm tăm" 
(1)
      Trộm nghe: Trời Đất thường có lý, Đông Hạ, Thu Xuân đều vô tình. Ngắm Trời trông Đất kẻ thường cũng biết được mọi sự do nhân duyên tập thành. Bậc trí giả ngửa mặt xem Trời, vạch lá dò Đất mà biết rõ cơ sự bởi Trời Đất vận hành thời có tượng, nhưng lắm việc không thông cũng bởi Lý nó vô hình. 
Kệ rằng: 
Hữu tình đến gieo giống,
Nhơn đất quả lại sinh,
Vô tình đã không giống,
Không tính cũng không sinh. 
(2)
      Thiết nghĩ: Cái nghĩa sâu xa thì vô cùng mà sự hiểu biết khác nhau lại tùy theo tâm tính.
       Xuyên suốt xưa nay người ta thường tin vào Phong Thủy cũng bởi vì nó quyết định đến lành dữ, giàu nghèo. Việc tạo ra nhân tài hay tà ma do cách cuộc Địa lý hay chỉ là quan niệm?.
      Bàn về phong thủy dương trạch hiện đại tạm chia làm ba cách: Nhà ở Đô thị, Nhà ở nông thôn, Nhà ở Sơn cốc. Về cơ bản thì nhà ở Sơn cốc lấy tàng phong làm tốt, nhà ở thôn quê lấy thủy làm trọng, nhà ở đô thị lấy cách cuộc hình thể làm hay. Sâu hơn "Sơn thủy trung can tập" viết: Núi hướng về không bằng có dòng nước hướng về, dòng nước hướng về không bằng có dòng nước vây quanh, dòng nước vây quanh không bằng có dòng nước tụ, nước tụ thì Long hội, mà Long hội thì đất lớn". Ngày nay quan niệm Nước trong phong thủy hiện đại chính là hệ thống giao thông, việc tìm được cuộc đất tốt thời lại theo Thủy Long Kinh để được "Cần lộ quẩn quanh ôm ba mặt, dáng như kim thành, đi đến có tình, khí thế lớn có thể làm nơi ở của Đế vương"
Đấy là bàn về đại cuộc còn về hình thể đất Phong thủy chia thành 5 loại chính theo ngũ hành, sách xưa gọi là Ngũ tinh:
1. Mộc tinh là vùng đất hình dài, thẳng.
2. Hỏa tinh là thế đất nhọn, nhô cao, chân rộng.
3. Thổ tinh là thế đất vuông, vững chắc.
4. Kim tinh là miếng đất ngay ngắn hình tròn hoặc hình tròn méo ( Ô van).
5. Thủy tinh là miếng đất uốn lượn
       Về thuộc tính Mộc tinh thuộc Văn tinh, Hỏa tinh thuộc Lộc tinh, Thổ tinh thuộc tài tinh,  Kim tinh thuộc Võ Tinh, Thủy tinh thuộc Tú tinh. Theo môn Kỷ hà học ( môn hình học phẳng và hình học không gian) thì Mộc tinh thuộc hình chữ nhật, Hỏa tinh hình nón, Thổ tinh hình vuông, Kim tinh hình tròn hay bán cầu Thủy tinh hình zích zắc uốn lượn.
Địa hình thực tế rất ít có một địa cuộc thuần mà thường pha lẫn  các loại vừa Thổ vừa Kim. Phần Thổ hơn thì gọi là Thổ đới Kim, phần Kim nhiều hơn thì gọi là Kim đới Thổ.
      Người xưa đặt ra phép Cửu tinh dựa trên Ngũ tinh. Cửu tinh gồm 9 loại được lấy theo Cửu diệu (9 vì sao) là Tham Lang (Thiên Bồng), Cự Môn ( Thiên Nhuệ), Lộc Tồn ( Thiên Xung), Văn Khúc (Thiên Phụ), Liêm Trinh (Thiên Cầm), Vũ khúc ( Thiên Tâm), Phá Quân ( Thiên Trụ), Tả Phù (Thiên Nhậm), Hữu Bật (Thiên Anh). 
Quy về ngũ hành :
-        Thiên Bồng Quẻ Khảm (+ Thủy), đi với Tham Lang là sao Thiên Không (-Thủy) thuộc Thủy tinh;
-        Cự Môn (Thiên Nhuệ âm Thổ), Lộc Tồn (Thiên Xung dương Thổ) thuộc Thổ tinh;
-        Văn Khúc (Thiên Phù âm Mộc) Lộc Tồn ( Thiên Xung dương Mộc) thuộc Mộc tinh;
-        Hữu bật (Thiên Anh âm Hỏa),Liêm trinh ( Thiên Cầm dương Hỏa) thuộc Hỏa tinh;
-        Vũ Khúc (Thiên Tâm dương Kim), Phá Quân ( Thiên Trụ âm Kim)
Biến thể trong địa hình của Cửu tinh:
Sao Thiên Bồng (Tham Lang), Thiên Không thuộc Thủy, ta thường nói văn chương như sóng vỗ như nước trào nên là cách văn Văn tinh, Thiền Phù (Văn Khúc) và Thiên Xung (Lộc Tồn) ngũ hành thộc Mộc, có hình nhô thẳng cao vút hình tượng giống như cây bút nên Văn Khúc, Lộc Tồn cũng tượng trưng cho văn chương, quý nhân.
Lời văn câu văn và chữ viết như sóng nước cho nên tiêu biểu là Thiên Bồng tinh quân và thiên Không tinh quân. Thủy là mực viết thì phải có bút viết, giấy và bàn viết. Tiêu biểu cho giấy viết và bàn viết là sao Thiên Xung (+ Mộc quẻ Chấn). Còn cây bút viết thì uyển chuyển biến hóa cho nên tiêu biểu là sao Thiên Phù (quẻ Tốn -Mộc).
Bàn thêm về ý nghĩa của các thiên tinh trong môn Tử vi như sau:
Sao Văn Xương, Văn Khúc tượng trưng cho tình cảm và trí tuệ. Ngài Hi Di tiên sinh đặt ra cách Xương, Khúc thiên về chuyên khoa còn sao Hóa Khoa thì thiên về liên ngành. Cúng vì lẽ đó, nên khó ai vượt nổi Văn Xương, Văn Khúc trong chuyên môn sở trường. Cái học của Hóa Khoa chuyên về chiều rộng, còn cái học của Văn Xương , Văn Khúc nặng về chiều sâu. Sao Thiên Không (Tham Lang) chỉ sự thông minh của hạng mưu sĩ.
Để trợ lực cho khoa bảng trong hệ thống 108 thiên tinh trong hệ tử vi có sao Đế Vượng, Tràng Sinh, Tả Phù ( Thiên Nhậm), Hữu Bật (Thiên Anh), Sao Cự Môn ( Thiên Nhuệ), Lộc Tồn (Thiên Xung) là những thiên tinh bổ sung cho sức học sâu rộng hơn.
Xét về vị trí của Văn Tinh là các sao học vấn cần nhất phải thủ tọa ở các cung cường của đương số như cung Mệnh, cung Thân, Cung Quan. Vì Văn tinh là các sao dự đoán trong hiện kiếp như Mệnh, Thân, Quan hay Tài. Nếu đóng ở cung Phúc thì sự học vấn được dự đoán như ở tiền kiếp. Mặt khác văn tinh phải đi kèm với quý cách thì cái học mới có chỗ dụng, cụ thể như học mà được làm quan, có nghề nghiệp vững chắc. Nếu chỉ có văn tinh thuần túy quần tụ thì điều đó có thể có nghĩa như một người uyên bác, học rộng, không mấy thực tế, đắc dụng ở học đường hơn là ở ngoài đời.
Tùy theo vị trí của văn tinh, phải xét đến Ngũ hành. Nếu có nhiều tương sinh Ngũ Hành giữa Văn tinh với cung tọa thủ và với hành của Bản Mệnh thì học vấn càng dễ dàng, càng cao. Vấn đề lượng giá khoa bảng tùy thuộc nhiều hàm số, cần được cân nhắc tinh vi mới thấu đáo các uẩn khúc.
Cuộc đất tập hợp các hình thái và tính chất Văn Cách như vậy được cho là sẽ tạo ra nhiều nhân tài văn học. Một điều khá đặc biệt là hình thể của Văn Khúc lại giống kiến trúc các tòa tháp 7 hoặc 9 tầng của Nhà Phật. Bởi vì ý nghĩa này mà xưa nay thường tôn tạo tháp để " trấn Sơn, áp thủy, trừ tà ở những nơi tận cùng sơn mạch, trên đỉnh núi, bên nguồn nước... đồng thời tôn lên hoặc bổ vượng các khiếm khuyết của địa thế.
Các tháp nổi tiếng ở Trung Quốc như Song Tháp ở Thái Nguyên, Văn Xương ở Hồ Bắc... Ngoài biểu trưng Phật Giáo thì đều gắn lền với yếu tố phong thủy do các thân sĩ địa phương mong cầu vùng đất tại đây "hưng thịnh văn phong", Cổ nhất là tháp Văn Phong ở huyện Chung Dương, tỉnh Hồ Bắc, xây dựng từ năm 880 đời Đường. Tháp cao 16 m, có 22 cấp, hình dạng như cây bút khổng lồ, là nơi để văn sĩ bốn phương lên du ngoạn, tìm tứ lạ.
      Việt Nam có tháp cổ Tường Long nằm trên đỉnh núi Ngọc thuộc quận Đồ Sơn Hải Phòng. Tòa tháp này đang được phỏng dựng xây mới cao 36,09 m gồm 1 tầng với chân tháp hình vuông có kích thước 25,86 x 25,86, được tổ chức bốn lối lên xuống đăng đối nhau, bên trong tôn tượng Phật A Di Đà tọa trên tòa sen bằng đá.  Về phương diện phong thủy Tháp Tường Long năm trên tay Long của một khí mạch khá lớn, long mạch này kết Huyệt Oa tại vị trí khu vực Đình Ngọc. Huyệt này khá điển hình và dễ nhận ra với hình Oa rộng rãi, có thế có lực, Địa Nhục đầy đặn báo hiệu một vùng sinh khí thịnh vượng. Mặt khác Long mạch này nằm trên tuyết Tây Bắc Đông Nam nên có được thế cục "Tam Nguyên Bất Bại". Tuy nhiên huyệt này có một nhược điểm lớn là Tay Long thấp hơn Tay hổ lại có dáng không phù củng làm tán khí. Cách cuộc này ứng với " Tiểu Nhân, Người dưới lấn át người trên". vì đã hiểu rõ điều này nên các Cao Tăng xưa (thời vua Lý Thánh Tông) đã cho dựng Tháp để tụ Khí mạch, lấy lại uy thế cho tay Long, áp chế Tay Hổ tạo ra một huyệt trường hoàn chỉnh. Đấy là một dẫn chứng cụ thể về việc dùng Tháp để bổ khuyết và làm vượng các thế đất chưa hoàn chỉnh.
       "Thần Siêu" Nguyễn Văn Siêu từng viết: “ Xưa lấy hốc đất làm nghiên, chú giải Đạo Đức Kinh, nghiền ngẫm bên nghiên lớn, viết sách Hán Xuân Thu. Từ đá tách ra làm nghiên, chẳng có hình dáng. Không vuông không tròn, dùng vào mọi việc thật kỳ diệu. Không cao không thấp, ngôi ở chính giữa. Cúi soi hồ Hoàn Kiếm, ngửa trông ngọn Bút đá, ứng vào sao Tam Thai mà mọi biến đổi. Ngậm nguyên khí mà mài hư không”. Bài minh này được khắc ở thân đài Nghiên cạnh tòa tháp Bút ( sao Tấu Thư ) cao 7 tầng. Hình của tháp Bút là ngọn bút phóng thẳng lên trời như thể hiện khí thế ba chữ “ Tả Thanh Thiên” khắc ở chân tháp.
      Người xưa tin rằng tạo tháp làm hưng khởi việc học, khoa cử đỗ đạt. Thường những địa phương nào kém đường học vấn, lâu năm không có người đỗ đạt thì chọn đất dựng Văn bút tháp. Thời xưa ở Huyện Kinh Dương Trung Quốc có vùng đất phong thủy rất tốt nhưng bao năm việc học không phát, không có người đỗ đạt. Có Quang thượng thư Lý Đạt thỉnh thầy phong thủy đến xem, thấy phía bắc có núi Bút Gia, hình như giá bút mà không có bút; phía Nam có sông Kinh như dòng mực lớn, chỉ chờ bút chấp vào, bèn chọn hướng đông nam lập tòa Sùng Văn Tháp. Cũng kỳ lạ từ đó trở về sau, đất Kinh Dương xuất hiện văn tài rất nhiều.
            "Dương trạch tam yếu" nói rằng: "Phàm các tỉnh, phủ, huyện, thị mà đường học hành bất lợi, đường khoa cử không phát thì nên chọn tại các hướng Giáp, Tốn, Bính, Đinh mà dựng văn bút tháp, chỉ cần cao hơn núi thì khoa giáp sẽ phát. Hoặc lập tháp trên núi, hoặc dựng tháp cao ở đất bằng, đều gọi là văn bút tháp". Trong các kinh thành xưa, thường thì Văn bút tháp và Khuê văn các được dựng ở phương Tốn, tức hướng đông nam. Khuê tức sao Khuê thuộc chòm Bạch Hổ, là một trong "Nhị thập bát tú" - 28 ngôi sao trên đường hoàng đạo, người xưa tin rằng sao Khuê là chủ tể về văn vận.
Theo phong thủy học, hướng đông nam trũng, đất nhẹ, địa khí tràn ra, khó có nhân tài, vì thế dựng tháp để trấn địa. Kinh Dịch lại nói: "Tượng của Tốn là gió, gió thì theo, không vật gì mà không lợi". Người xưa xem hướng Tốn là "phủ của văn chương" nên dựng tháp hình ngọn bút như là biểu tượng của giáo hoá, học hành.   
 “Nhất vị Nhị hướng” là khẩu quyết về trọng khinh trong việc chọn hình thể đất, hình dáng vật kiến trúc để làm hưng vượng và khắc chế khiếm khuyết của các cách cuộc nêu trên để đắc vị và hướng. Khoa học phong thủy xưa nay tồn tại nhiều trường phái khác nhau như: Loan Đầu, Huyền Không, Bát Trạch, … Cho nên ứng dụng kết hợp các phép khác nhau để kết quả được như sở nguyện là việc hết sức khó khăn. Đôi khi được hướng thì xấu vị, đạt vị lại hỏng cách…
Do đó tùy theo địa cuộc và tính chất mà vận dụng. Xuất thế gian thì phải chú trọng phần Thể và Dụng. Thể tọa ở phía bên trái, Dụng ở phía bên phải. Thế gian thì trọng cấp trên, trọng Trưởng thì ưu tiên tay Long áp chế tay Hổ. Như vậy là để đúng với “ Hổ phải sâu dày mà Long thì trường thoáng.”.
Quá trình định vị và xây dựng công trình phải chú ý các việc khác nhau như việc chọn ngày giờ khởi công, phương vị động thổ. Việc chọn thời khắc thực hiện là để được thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ngày nay còn truyền lại nhiều phép xem giờ tốt như Mai Hoa Dịch Số, Ngũ Linh Dịch học. Hướng của công trình phải tránh bị phạm vào Bát Sát  và Hoàng Tuyền. Đây là phép Lý Khí, căn cứ theo phân kim của La kinh . Theo ca quyết sau để tránh:
Phạm vào Hoàng tuyền:
Canh, Đinh, Khôn thượng thị Hoàng Tuyền
Ất, Bính tu phòng Tốn thủy tiên
Giáp, Quý hướng kim lư kiến Cấn
Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương Càn.
Phạm Bát sát :
Khảm Long (Thìn), Khôn Thố (Mão), Chấn sơn Hầu (Thân)
Tốn Kê (Dậu), Kiền Mã (Ngọ), Đoài Xà (Tỵ) đầu
Cấn Hổ (Dần), Ly Trư (Hợi), vi Sát Diệu
Phạm chi Trạch Mộ, nhất tề hưu.
Vậy mọi việc đã rõ, cách cuộc, hình thể tốt xấu phương vị đúng sai đều có thể dò và có thể tìm. Câu hỏi đặt ra là tại sao người không biết phong thủy lại làm Vua làm Quan. Còn người biết phong thủy vẫn chỉ là thầy Địa Lý..?
"Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau" 
 (3)
  Tổ sư Quách Phát là người sáng lập ra khoa địa lý vào thời nhà Tần thế kỷ thứ IV sau CN có nói: “Tiên tích đức hậu tầm long” nghĩa là đầu tiên hẵng tích tụ lấy cái phúc đức cho mình trước đã sau đó tìm đất long mạch mới thành công.
      Việc này phù hợp với lời dạy của Đức Phật ở kinh Thủ Lăng Nghiêm. Khi nói về phép viên thông Địa Đại,  Đức Phật nói Ông trì Địa Bồ tát tu pháp môn này chuyên môn làm việc phúc đức làm đường, làm cầu, làm nhà cho dân chúng. Sau này Trì Địa Bồ Tát gặp Đức Phật Không Vương Như Lai. Đức Phật dạy ông làm việc tốt này nhưng cần phải hiểu cái tâm. Tâm có bình đẳng tốt đẹp thì thế giới mới bình đẳng tốt đẹp.
Khế kinh đại Thừa Pháp Tướng Tông có nhiều bài nói về cái duyên. Trong bốn duyên là Nhân Duyên , Đẳng vô gián duyên, Sở duyên duyên, Tăng thượng duyên. Suy luận về việc thế gian thì Nhân duyên là cái duyên của Nhân tài, Tăng Thượng Duyên là cái duyên của Thiên tài. Sở Duyên Duyên là cái duyên của Địa tài. Nhân tài là nhân hòa nhân sự, Thiên tài là thiên văn thiên thời. Địa tài là Địa lý, địa lợi. Còn cái duyên thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên là duyên chung của cả ba Thiên Địa Nhân.
Phong thủy Địa lý là pháp thế gian là cái phần tướng của Sở Duyên Duyên. Cách cuộc tốt đẹp của phong thủy sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội, tạo ra nhiều thế hệ nhân tài. Tích tụ lâu ngày sẽ tạ ra nền văn hiến. Cái văn hiến của thế gian nếu biết dùng đúng chỗ đúng lúc thì cũng là cái duyên cho chúng sinh xuất thế gian theo Phật Pháp.
Phật Giáo Đại Thừa có dạy Bồ Tát thi hành phương tiện Ba La Mật cứu độ chúng sinh thì phải giỏi Ngũ minh: Thanh Minh ( môn học về ngôn ngữ văn chương), Công xảo minh (Môn học về lịch toán, Kỹ thuật, công nghệ), Y phương Minh (Môn học về y dược, Chú pháp), Nhân Minh (Môn học về luận lý) và Nội Minh là đạo lý cơ bản của Phật Pháp Đại Thừa để chúng sinh thực hành các môn đó xuất thế gian. Nội minh này là cơ bản của văn hiến. Văn hiến trong Đạo Phật chính là viên thông Thủy Đại và viên thông Địa Đại. Ở trong địa đại thì Thổ + Thủy sẽ là Mộc tương ứng với Thiên Xung tinh quân và Thiên Phù tinh quân. Ở trong thủy đại tương ứng với Thiên Không tinh quân và Thiên Bồng tinh quân. Tiến lên đại thừa xuất thế gian thì Thiên Bồng tinh quân là thị giả của Đông Phương Tối Thắng Tịnh Độ Vận Ý Thông Đắc Như Lai còn Thiên Xung tinh quân chính là thị giả của Đông phương Diệu Viên Tịnh Độ Kim Sát Thành Tựu Như Lai.Thiên Phù tinh quân là đệ tử của Đông Phương Tịnh Trụ Tịnh Độ Quảng Đại Trí Biện Như Lai (Kinh dược sư Bản Nguyện).
Chiếu lại với lời dạy của Tổ sư Quách Phát thì cái Lý về địa lý thế gian từ tâm đức mà ra, thì cái địa lý xuất thế gian mà đức Phật Không Vương dạy cũng từ cái tâm bình đẳng tốt đẹp mà ra. Dù Xuất Thế Gian có cao quý hơn Thế Gian nhưng xuất phát điểm ban đầu là cái Tâm sẽ quyết định cái Vật là địa lý.
Kết:
Có Tâm thế gian tốt đẹp là có thiện hữu lậu. Có thiện hữu lậu thì sẽ có Long Mạch tụ chính khí.

Có Tâm xuất thế gian bình đẳng thì sẽ có các cõi Tịnh Độ thập phương thanh tịnh tốt đẹp.

“Đất tâm vốn không sanh,

Nhân đất từ duyên khởi,

Duyên giống chẳng ngại nhau,
Hoa trái cũng như thế”
(4)
***
(Phần tiếp theo: Kiến trúc cõi Tịnh Độ)
 Mười thiên tinh thị giả của bảy Đức Phật và hai Đại Bồ Tát:
1. Nam mô Đông Phương Tối Thắng Tịnh Độ Vận Ý Thông Đắc Như Lai cập thị giả Thiên Bồng, Thiên Không tinh quân.
3. Nam mô Đông Phương Diệu quang Tịnh Độ Quang Âm tự tại Như Lai cập thị giả Thiên Nhuệ tinh quân.
4, Nam mô Đông phương Diệu Bảo Tịnh Độ Kim Sắc Thành Tựu Như Lai cập thị giả Thiên Xung tinh quân.
5. Nam mô Vô Ưu Tối thắng Cát Tường Như Lai Đông Phương Vô Ưu Tịnh Độ cập thị giả Thiên Phù tinh quân.
6. Nam mô Tịnh Trụ Tịnh Độ Quảng Đại Trí Biện  Như Lai cập thị giả Thiên Cầm tinh quân.
7. Nam mô Đông Phương Tịnh Lưu Ly Tịnh Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cập thị giả Thiên Trụ tinh quân.
8. Nam mô Tây phương Diệu Viên Tịnh Độ Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát cập thị giả Thiên Nhậm tinh quân.
9. Nam mô Tây phương Diệu Hỷ Tịnh Độ An Lạc Tự Tại Bồ Tát cập thị giả Thiên Anh tinh quân.

(1) Xích Đằng Cư Sĩ
(2) Tổ Hoằng Nhẫn
(3) Tố Hữu
(4) Tổ Sư Thiền Tông Ấn Độ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét